Nghệ thuật tác chiến
Điện Biên Phủ và bản lĩnh Võ Nguyên Giáp
11:46 | 04/10/2013
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã từ trần vào hôm nay 4.10.2013, thọ 103 tuổi. Đại tướng qua đời vào cuối giờ chiều 4.10, tại bệnh viện nơi ông nằm điều trị lâu nay.


Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Điện Biên Phủ và bản lĩnh Võ Nguyên Giáp

Trong cuộc đời cầm quân của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp có rất nhiều quyết định quan trọng, đưa ông vào hàng “những người hiếm hoi làm chuyển dịch dòng chảy của lịch sử” (từ của Peter MacDonald, một vị tướng kiêm sử gia người Anh). Nhưng việc thay đổi phương châm tác chiến từ “Đánh nhanh giải quyết nhanh” chuyển sang “Đánh chắc tiến chắc” - một thay đổi đưa đến chiến thắng tuyệt đối trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 - được coi là quyết định to lớn và “khó khăn” nhất cuộc đời ông. Thanh Niên giới thiệu cùng bạn đọc loạt bài của đại tá PGS-TS Nguyễn Mạnh Hà, Phó viện trưởng Viện Lịch sử quân sự VN, để thấy rõ hơn về bản lĩnh quân sự của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Tại sao lại là Điện Biên Phủ?

Điện Biên Phủ là trận đánh lớn nhất, nhưng vào mùa thu năm 1953, nó hoàn toàn không có trong kế hoạch tác chiến của Bộ Tổng tư lệnh của ta và cả trong Kế hoạch Navarre của Pháp.

Kế hoạch của quân viễn chinh Pháp

Do chiến sự diễn ra nhanh chóng, một đơn vị bộ đội ta hành quân lên Tây Bắc để tiến công giải phóng thị xã Lai Châu, vị trí còn lại cuối cùng của Pháp ở Tây Bắc, nhằm giải phóng hoàn toàn vùng này. Lo sợ quân ta sau khi làm chủ vùng Tây Bắc chiến lược rộng lớn, sẽ thừa thắng đánh sang Thượng Lào rồi đánh xuống Trung Lào, Hạ Lào, xuống đông bắc Campuchia, rồi quặt vào miền Trung Trung Bộ..., Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương là Nava vội vã cho 6 tiểu đoàn nhảy dù xuống khu vực lòng chảo Điện Biên Phủ trong các ngày 20-21.11.1953 nhằm lập một trung tâm chốt chặn đường tiến của bộ đội ta lên Lai Châu và sang Lào.

Về mặt địa lý chiến lược, Điện Biên Phủ - có cánh đồng Mường Thanh, là nơi có địa hình rộng lớn và bằng phẳng nhất ở Tây Bắc. Lòng chảo Điện Biên Phủ có chiều rộng từ 6-8 km, dài 15-17 km, được chính Tổng chỉ huy Navarre đánh giá là căn cứ lục quân, không quân tốt nhất ở miền bắc Đông Dương, rất thuận tiện cho việc xây dựng tập đoàn cứ điểm phòng thủ.

Không những thế, bộ chỉ huy Pháp còn tính toán rằng, ở Điện Biên Phủ, nơi cách Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ và Thanh Hóa từ 300 đến 500 km đường chim bay, chỉ có đường quốc lộ số 6 từ Hà Nội đi qua Hòa Bình, Sơn La lên, thì việc đảm bảo vũ khí, đạn dược hậu cần, lương thực thuốc men... cho hàng vạn người chiến đấu trong một thời gian dài, là điều rất khó, nếu không nói là không thể thực hiện được. Sở dĩ như vậy là vì Bộ chỉ huy Pháp cho rằng quân ta chủ yếu vận chuyển bằng đôi vai và các phương tiện thô sơ như xe đạp thồ, ngựa thồ, thuyền mảng, nếu có đi theo đường số 6 thì sẽ bị máy bay của Pháp ném bom chặn đánh.

Hơn nữa, hình thức tập đoàn cứ điểm đã được phía Pháp áp dụng xây dựng trong đông xuân 1951-1952, tại thị xã Hòa Bình, trong chiến dịch Hòa Bình; tại Nà Sản (10.1952), trong chiến dịch Tây Bắc, nhưng bộ đội ta đều không đánh được, trái lại bị tổn thất nặng, thì với tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, được xây dựng kiên cố, quân đông (16.000), nhiều vị trí và trung tâm đề kháng (49 cứ điểm, 8 trung tâm đề kháng), lại có cầu hàng không tiếp tế liên tục với số lượng lớn..., từng được viên Tổng chỉ huy tiền nhiệm của Navarre là Salan đánh giá là “Nà Sản lũy thừa 10”, được Bộ chỉ huy Pháp coi là bất khả xâm phạm. Nếu bộ đội ta có liều lĩnh đánh vào thì tập đoàn cứ điểm trở thành “cái nhọt hút độc”, là “cái cối xay thịt” chủ lực Việt Minh. Chính vì thế, cả Pháp và Mỹ đều rất chủ quan, thậm chí còn cho thả truyền đơn “thách tướng Giáp tiến công” Điện Biên Phủ.

Điểm hẹn lịch sử

Về phía ta, nhận được tin quân Pháp nhảy dù chiếm và xây dựng Điện Biên Phủ thành tập đoàn cứ điểm, T.Ư Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng đây là cơ hội tốt để ta tiêu diệt địch, đánh bại ý chí tiếp tục chiến tranh của chúng. Vì thế, tuy chưa chuẩn bị cho một trận đánh lớn, mà đang tập trung huấn luyện, củng cố ở khu vực Yên Bái, Tuyên Quang, Phú Thọ..., nhưng rất nhanh chóng, phần lớn các đại đoàn chủ lực của ta được lệnh lên đường nhằm hướng Điện Biên Phủ.

Xuất phát từ quan điểm chiến tranh nhân dân, với khẩu hiệu “Tất cả cho Điện Biên Phủ”, hàng chục vạn dân công các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, Thanh Hóa đã được huy động làm đường, vận chuyển hàng cho chiến dịch. Cũng với niềm tin tưởng rằng trải qua 8 năm kháng chiến, bộ đội ta đã trưởng thành về mọi mặt: quân số, tổ chức, trang bị vũ khí, cách đánh..., có đủ khả năng đánh bại hình thức phòng ngự cao nhất của thực dân Pháp, giáng một đòn quyết định, sớm kết thúc chiến tranh.

Vì thế, một cách không tự giác, nhưng lại có tính logic trong tiến trình chiến tranh, đã đến lúc cả hai bên tham chiến đều nhận thấy cần có một trận đánh quyết định để kết thúc chiến tranh. Tuy rằng, trong kế hoạch, Navarre chủ trương đến mùa thu 1955 mới kéo quân ra miền Bắc giao đấu trận quyết định với chủ lực ta sau khi đã bình định xong Nam Bộ và “thanh toán” được vùng tự do Liên khu 5, nhưng trước bối cảnh của thế bị động chiến lược, phải đối phó với đòn tiến công của ta nhằm phá khối cơ động chiến lược - xương sống của Kế hoạch Navarre, viên Tổng chỉ huy Pháp đã có một quyết định táo bạo - nhưng lại là quyết định sai lầm lớn nhất trong cuộc đời nhà binh - cầm quân của ông ta.

Ngày 3.12.1953, Navarre quyết định chấp nhận giao chiến với ta ở Điện Biên Phủ. Chỉ 3 ngày sau, ngày 6.12.1953, Bộ Chính trị BCH T.Ư Đảng họp mở rộng, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thông qua kế hoạch tác chiến ở Điện Biên Phủ do Tổng Quân ủy trình bày.

Điện Biên Phủ trở thành điểm hẹn mang tính lịch sử một cách nhanh chóng trong vòng 2 tuần, nếu chỉ tính từ ngày 20.11.1953, khi những lính dù Pháp đầu tiên được ném xuống vùng lòng chảo thanh bình và trù phú này, nhưng thực chất đó là kết quả của cuộc chiến đấu lâu dài, gian khổ, ác liệt của quân và dân ta.  

Chủ trương viện trợ cho Việt Nam chống Pháp, Đảng, Chính phủ Trung Quốc đã cử Bí thư Tỉnh ủy, Chính ủy trong Quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc La Quý Ba sang Việt Nam làm đại diện liên lạc giữa hai T.Ư Đảng Cộng sản Trung Quốc và T.Ư Đảng Cộng sản Đông Dương (3.1950). Tháng 7.1950, Trung Quốc đã cử ông Trần Canh, lúc đó đang là Phó tư lệnh Quân khu Tây Nam kiêm Tư lệnh Quân khu Vân Nam, sang giúp cuộc kháng chiến của Việt Nam, chuẩn bị mở chiến dịch Biên giới thu đông 1950.

Đến giữa tháng 8.1950, các thành viên Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc lần lượt sang Việt Nam, do ông Vi Quốc Thanh, lúc đó đang là Chính ủy Binh đoàn số 10 kiêm Chủ nhiệm Ủy ban quân quản thành phố Phúc Châu, làm Trưởng đoàn kiêm Bí thư Đảng ủy; ông Mai Gia Sinh làm Phó đoàn phụ trách Tham mưu trưởng, Đặng Dật Phàm là Phó đoàn phụ trách Chủ nhiệm Chính trị.

 PGS-TS Nguyễn Mạnh Hà

Truyền thông quốc tế ca ngợi huyền thoại Võ Nguyên Giáp

“Vị tướng huyền thoại”, “người đánh bại nước Pháp và nước Mỹ” là những cụm từ xuất hiện dày đặc trên báo chí quốc tế vào đêm nay, 4.10, khi đưa tin Đại tướng Võ Nguyên Giáp lìa trần.

Hãng AFP đã lập tức ca ngợi Đại tướng Võ Nguyên Giáp là “một trong những nhà chiến lược quân sự vĩ đại nhất lịch sử” và là kiến trúc sư cho chiến thắng chống Pháp và chống Mỹ.

Hãng tin Pháp trích phát biểu trước đây của nhà báo Mỹ Stanley Karnow nhận xét “sự lỗi lạc của tướng Giáp trong vai một nhà chiến lược đặt ông vào ngôi đền của những lãnh đạo quân sự vĩ đại”, cùng với công tước Wellington, Ulysses S. Grant và tướng Douglas MacArthur.

Tương tự, hãng Reuters nói Đại tướng Võ Nguyên Giáp là “một trong những nhân vật nổi tiếng nhất thế kỷ 20 của Việt Nam, xếp ngang với những người khổng lồ quân sự như Montgomery, Rommel và MacArthur.

Với sự nhanh nhạy đáng kinh ngạc, tờ The Washington Post chạy hẳn một bài viết dài hơn 3.000 chữ để viết về cuộc đời của vị tướng huyền thoại, người được tờ báo Mỹ ca ngợi là “bậc thầy quân sự người Việt Nam”.

“Cùng với lãnh tụ Cộng sản Việt Nam Hồ Chí Minh, người từ trần năm 1969, và cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người từ trần năm 2000, Đại tướng Giáp được tôn kính như là một trong những nhà lập quốc ở quê hương ông. Với các học giả quân sự trên toàn thế giới, ông là một trong những nhà thực hành chiến tranh du kích cách mạng hiện đại hàng đầu”, tờ The Washington Post viết.

Hãng AP mô tả “tướng Giáp là một anh hùng dân tộc, người mà di sản chỉ xếp thứ hai sau người thầy của ông, Chủ tịch lập quốc Hồ Chí Minh, người dẫn dắt đất nước giành độc lập”.

Trong khi đó, Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain đã nhanh chóng chia buồn và loan báo thông tin về Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

“Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã qua đời - nhà chiến lược quân sự lỗi lạc từng nói với tôi rằng chúng ta là những “kẻ thù danh dự””, ông McCain, cựu binh Mỹ từng tham gia chiến tranh Việt Nam và bị bắt làm tù binh, viết trên Twitter.

Công Chính




Phương án “đánh nhanh giải quyết nhanh”


 Thay đổi phương châm tác chiến từ “Đánh nhanh giải quyết nhanh” sang “Đánh chắc tiến chắc” được coi là sự kiện kịch tính nhất trong lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp, điều mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp gọi là “quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của tôi”. Lúc đó ông mới 43 tuổi.

Trách nhiệm nặng nề của “tướng quân tại ngoại”

Trong kế hoạch tác chiến của Tổng Quân ủy báo cáo Bộ Chính trị, thời gian chiến dịch dự kiến diễn ra trong 45 ngày, đã được Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh thông qua. Đại tướng Võ Nguyên Giáp được cử làm Tư lệnh chiến dịch kiêm Bí thư Đảng ủy Mặt trận Điện Biên Phủ. Do còn giải quyết một số công việc, ông ra mặt trận sau. Đoàn cán bộ đi trước có thiếu tướng Hoàng Văn Thái, Tham mưu trưởng chiến dịch. Phía đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc có ông Mai Gia Sinh, Tham mưu trưởng.

Vào giữa tháng 12.1953, tham mưu chiến dịch của ta đã cơ bản xây dựng xong kế hoạch tác chiến chiến dịch cụ thể, với sự giúp đỡ của cố vấn Trung Quốc. Sau này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết trong hồi ký: “Anh Thái báo cáo phương án đánh Điện Biên Phủ đã được chuẩn bị, chờ tôi lên để thông qua. Đây sẽ là lần đầu bộ đội ta mở một cuộc tiến công quy mô lớn vào một tập đoàn cứ điểm với một vạn quân. Cán bộ, chiến sĩ ta đã được chuẩn bị đánh tập đoàn cứ điểm... Trận đánh sắp tới sẽ là một thử thách lớn chưa từng có đối với ta trong chiến tranh. Ta đã chọn chiến trường rừng núi là nơi có nhiều điều kiện thuận lợi để tiêu diệt địch. Nhưng Điện Biên Phủ không hoàn toàn là rừng núi. Ở đây có cánh đồng lớn nhất Tây Bắc. Rất nhiều cứ điểm nằm trên cánh đồng. Bộ đội ta sẽ phải tiến hành nhiều trận đánh với quân cơ động có máy bay, xe tăng, đại bác yểm trợ trên địa hình bằng phẳng giống như ở đồng bằng. Nếu kẻ địch chấp nhận trận đánh ở Điện Biên Phủ, thì đây cũng là chiến trường do chúng lựa chọn... Trận đánh này ta không được phép thua. Phần lớn tinh hoa của bộ đội chủ lực trong tám năm kháng chiến đều tập trung ở đây. Những vốn liếng vô cùng quý giá, nhưng cũng thực ít ỏi. Từ năm 1950 bắt đầu mở chiến dịch lớn tới mùa xuân này, vẫn là những đơn vị ấy, những con người ấy. Tôi đã thuộc từng trung đoàn, từng tiểu đoàn, từng đại đội chủ công, biết những cán bộ đại đội, trung đội, chiến sĩ đã lập công xuất sắc. Đã thấy rõ mọi người lên đường lần này đều sẵn sàng hy sinh để giành chiến thắng. Nhưng nhiệm vụ của chiến dịch không chỉ là giành chiến thắng, mà còn phải giữ được những vốn quý cho cuộc chiến lâu dài...”. (Võ Nguyên Giáp - Tổng tập Hồi ký, NXB QĐND, H, 2006, tr.913, 914).

Ngày 5.1.1954, trước khi lên đường ra trận, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến chào Bác Hồ ở Khuổi Tát. Bác hỏi: “Chú đi xa như vậy, chỉ đạo các chiến trường có gì trở ngại không?” Đại tướng trả lời: Chỉ trở ngại là ở xa, khi có vấn đề quan trọng và cấp thiết, khó xin ý kiến của Bác và Bộ Chính trị. Bác động viên: “Tổng tư lệnh mặt trận, “tướng quân tại ngoại”! Trao cho chú toàn quyền. Có vấn đề gì khó khăn, bàn thống nhất trong Đảng ủy, thống nhất với cố vấn thì cứ quyết định, rồi báo cáo sau”.

Khi chia tay, Người dặn dò Đại tướng: “Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh”. Vị tư lệnh chiến dịch “cảm thấy trách nhiệm lần này rất nặng”.

Tại sao chọn “đánh nhanh”?

Ngày 12.1.1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Trưởng đoàn cố vấn Trung Quốc Vi Quốc Thanh và một số cán bộ cùng đến sở chỉ huy thì được biết phía ta và cố vấn đã thống nhất sẽ nổ súng mở màn chiến dịch vào ngày 20.1, với phương châm là “đánh nhanh giải quyết nhanh” trong vòng 3 đêm 2 ngày. Đây là điều Đại tướng chưa nghĩ tới, như ông viết trong hồi ký:“...Tôi vẫn cho rằng đánh nhanh không thể giành thắng lợi, nhưng chưa có đủ cơ sở thực tế để bác bỏ phương án các đồng chí đi trước đã lựa chọn. Cũng không còn thời gian báo cáo xin ý kiến Bộ Chính trị, tôi đồng ý triệu tập hội nghị triển khai kế hoạch chiến đấu. Tôi nói với đồng chí Nguyễn Văn Hiếu, Chánh văn phòng của Bộ, sự cân nhắc của mình, dặn theo dõi tình hình, nghiên cứu, suy nghĩ thêm, và chỉ được trao đổi riêng với tôi về vấn đề này. Tôi chỉ thị cho đồng chí Cao Pha, Cục phó Cục 2, điều tra thật cẩn thận những vị trí trên cánh đồng hướng tây, nơi được coi là sơ hở, ta sẽ dùng mũi thọc sâu đánh vào, và yêu cầu phải báo cáo hàng ngày những hiện tượng như tăng quân, củng cố công sự của địch...”. (Tổng tập Hồi ký, Sđd, tr.919)

Vì sao lại đề ra phương châm tác chiến “đánh nhanh, giải quyết nhanh”? Đại tá Hoàng Minh Phương - nguyên Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân đoàn 4, trong chiến dịch Điện Biên Phủ nguyên là cán bộ phiên dịch tiếng Trung Quốc cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp - giải thích: “Trên đường ra mặt trận, ông Thái (Hoàng Văn Thái) thận trọng bàn với ông Mai Gia Sinh dừng ở Nà Sản nghiên cứu vì sao năm 1952 ta đánh không thành công? Ông Mai nói ta không thành công vì đánh theo lối “bóc vỏ”, tập trung đánh một điểm của địch nhưng không có lực lượng chế áp pháo binh nên bị pháo địch quần xung quanh, cùng không quân tập trung ném bom. Kiểu ấy không chiếm được tập đoàn cứ điểm mà có chiếm cũng không giữ được. Ông Mai nói lần này đánh “moi tim” và phải đánh nhanh, nếu không tranh thủ đánh sớm địch sẽ tăng quân củng cố công sự”. Vẫn theo đại tá Hoàng Minh Phương: “Tôi tham dự cuộc họp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp với các thành viên Đảng ủy chiến dịch và cố vấn. Ông Đặng Kim Giang, phụ trách hậu cần mặt trận bảo: Tranh thủ đánh sớm, Điện Biên Phủ mỗi ngày quân ăn 50 tấn gạo. Dân công gánh tải gạo từ Thanh Hóa lên đến kho tính ra chỉ còn 1-2 kg mỗi người. Ta chỉ có 628 xe Liên Xô viện trợ, đường độc đạo bị nó đánh ghê nhất là ở đèo Lũng Lô, ngã ba Cò Nòi. Chủ nhiệm Chính trị Lê Liêm thì nói: Bộ đội ngại đi Tây Bắc. Chưa cần nói đến vắt, bọ chó, muỗi, thì tâm lý anh em đã là thích đánh đồng bằng. Lên đến đây họ muốn đánh sớm còn về xuôi. Đánh nhanh hợp tâm lý bộ đội”.

Ngày 14.1.1954, Bộ chỉ huy chiến dịch triệu tập cuộc họp phổ biến kế hoạch tác chiến tại hang Thẩm Púa. Đại tá Hoàng Minh Phương nhớ lại: “Mệnh lệnh chiến đấu được phổ biến trên một sa bàn lớn. Cán bộ cao cấp, trung cấp các đại đoàn tham gia chiến đấu đều có mặt như những đại đoàn trưởng, chính ủy đại đoàn: Vương Thừa Vũ, Chu Huy Mân, Trần Độ, Phạm Ngọc Mậu... và nhiều cán bộ trung đoàn, tiểu đoàn đã cùng chiến đấu qua rất nhiều chiến dịch. Ông Giáp hỏi: Có ai thắc mắc gì không? Không ai thắc mắc. Trận này ta có 24 lựu pháo, mấy chục sơn pháo, cối 120 ly, trong lịch sử chiến đấu của quân đội nhân dân, chưa bao giờ có hỏa lực mạnh thế. Mọi người khí thế, tin tưởng, muốn đánh lắm rồi. Bác Giáp sang gặp ông Vi Quốc Thanh bàn, tôi đi dịch. Ông nói: “Tôi với anh bàn ở hậu phương dự kiến đánh chắc, tiến chắc. Ta đã báo cáo với Bác Hồ và Trung ương là đánh 45 ngày. Giờ anh em ở đây định giải quyết trong 3 đêm 2 ngày”. Ông Vi là người thận trọng, nhưng cũng bảo: “Tôi thấy anh Mai (Gia Sinh) và anh Thái đi cả tháng trời rồi, đúng là có khi phải đánh nhanh, nếu không sẽ bỏ lỡ cơ hội đánh trận này. Mà Đông – Xuân này phải đánh một trận, chả nhẽ kéo năm vạn quân lên đây rồi kéo về tay không”. (Chuyện những người làm nên lịch sử, tr.76).

Đại tá Hoàng Minh Phương còn cho biết, trong cuộc họp ngày 14.1 “Cố vấn Mai Gia Sinh đề nghị chiều 20.1 cấp tập hỏa lực, giọt 2.000 viên 105 mm làm tê liệt pháo binh địch, sau đó chuyển làn về sau yểm hộ bộ binh xung phong. Đại đoàn 308 theo kế hoạch sau khi pháo bắn xong cứ xông qua cánh đồng Mường Thanh vào sở chỉ huy địch. Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái thận trọng hỏi: “Đường chưa mở sao đưa pháo vào kịp?”. Ông Mai Gia Sinh giải thích chỉ cần mở đường Tuần Giáo đi Mường Thanh để xe GMC kéo pháo, cách Điện Biên 12 km thì hạ càng pháo, dùng sức người kéo pháo vào, nếu làm được tạo nên yếu tố bất ngờ. Nghe cũng có lý. Bên Trung Quốc có kinh nghiệm đánh rồi. Lại hỏi: “Bộ đội tôi chưa quen đánh ban ngày, giờ đánh ngày, địch có máy bay, pháo...”. Ông Mai giải thích ta xông vào đêm trước, sáng hôm sau đánh xen kẽ với địch thì máy bay nó không dám ném bom vì chết ta thì cũng chết nó”.

Trước những lý lẽ như vậy, trong lúc quân địch chưa đông, hầm hố, công sự chưa kịp củng cố vững chắc, mọi người thống nhất đánh theo phương châm “đánh nhanh giải quyết nhanh”. Kết thúc hội nghị, Đại tướng nói: “Giờ ta đánh theo phương án này, nhưng suốt quá trình chuẩn bị phải theo dõi đài địch để có gì mới kịp thời xử trí”.

Băn khoăn của tư lệnh chiến dịch


 Kết luận của Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại cuộc họp ngày 14.1.1954 cho thấy dường như ông không đặt hết tin tưởng vào cách “đánh nhanh giải quyết nhanh”, mặc dù ông vẫn tỏ ra tôn trọng ý kiến tập thể.

Điều băn khoăn này được Đại tướng Võ Nguyên Giáp thể hiện trong hồi ký: “Từ hội nghị Thẩm Púa tới khi đưa pháo vào trận địa đối với tôi là một thời gian rất dài. Nhiều đêm thao thức. Suy tính, cân nhắc rất nhiều lần, vẫn chỉ tìm thấy rất ít yếu tố thắng lợi. Tôi căn dặn các phái viên đi nắm tình hình, thấy bất cứ điều gì đáng chú ý đều phải báo cáo kịp thời. Mọi người đều phản ánh tinh thần chuẩn bị chiến đấu rất cao của cán bộ, chiến sĩ. Đại đoàn trưởng 312 Lê Trọng Tấn nói với tôi trong quá trình chiến đấu, sẽ phải đột phá liên tục ba lần mới vào được trung tâm. Nhưng đây chỉ là sự tính toán công việc phải làm. Đại đoàn trưởng 308 Vương Thừa Vũ, đảm nhiệm mũi thọc sâu, hoàn toàn giữ im lặng. Sang ngày thứ chín, hai ngày trước khi nổ súng, đồng chí Phạm Kiệt, Cục phó Cục Bảo vệ, theo dõi việc kéo pháo ở phía Tây, đề nghị gặp tôi qua điện thoại. Anh Kiệt nhận xét: “Pháo của ta đều đặt trên trận địa dã chiến, địa hình rất trống trải, nếu bị phản pháo hoặc máy bay đánh phá sẽ khó tránh tổn thất. Một số pháo vẫn chưa kéo được tới trận địa”. (Tổng tập Hồi ký, Sđd, tr. 921, 922).

Điều cần nói thêm ở đây là các khẩu pháo 105 mm của ta được ô tô kéo vào cách trận địa dã chiến từ 9 đến 12 km tùy theo vị trí bố trí. Ngày bắt đầu kéo pháo bằng tay là 15.1.1954, với dự kiến ban đầu là chỉ 4 - 5 ngày pháo sẽ vào nơi bố trí trận địa. Nhưng thực tế lại không như vậy. Do đường mới mở tạm để kéo pháo, lại nhiều đèo dốc, bộ đội chưa có kinh nghiệm kéo các khẩu pháo nặng trên 2 tấn, trong khi máy bay của Pháp liên tục quần lượn, bắn phá, nên tốc độ kéo pháo rất chậm. Đến trước ngày 20.1, ngày dự định nổ súng, pháo vẫn chưa vào đến vị trí, buộc bộ chỉ huy chiến dịch phải lùi ngày nổ súng đến 25.1.1954.

Mặt khác, cứ mỗi ngày trôi qua, tin tức từ ba nguồn: các đơn vị đang triển khai bao vây, từ trinh sát của Bộ và từ tin của địch thu qua vô tuyến điện dồn dập báo về Sở chỉ huy cho thấy quân Pháp đang khẩn trương tăng thêm lực lượng sự bố phòng, đặc biệt là ở các điểm cao phía đông tập đoàn cứ điểm, khiến đại tướng càng thêm suy nghĩ. Ông nhớ lại: “Tôi được biết ở Mường Thanh, quân địch đã có thêm nhiều xe tăng và trên bốn chục khẩu pháo 105 và 155 ly. Ở nhiều cứ điểm, địch đã xây dựng công sự kiên cố. Tôi đặc biệt chú ý hệ thống công sự phụ, những hàng rào dây thép gai và bãi mìn địch không ngừng mở rộng mỗi ngày, có nơi đã rộng tới hơn 100 mét, thậm chí 200 mét. Ngày 24.1.1954, Cục 2 báo cáo, trong ngày địch vừa tăng cường cho Điện Biên Phủ thêm một tiểu đoàn, đưa lực lượng lên tới 10 tiểu đoàn (thực tế lúc đó địch đã có 12 tiểu đoàn). Những cứ điểm phía tây, nơi mũi chính Đại đoàn 308 sẽ đột phá, tuy không mạnh như một số cao điểm, nhưng nằm trên cánh đồng trống, bộ đội không có địa hình ẩn náu, địch dễ sử dụng xe tăng, pháo binh, máy bay và lực lượng phản kích đối phó. Đồng chí Hiếu (Chánh văn phòng Bộ) nhận xét: “Công tác tư tưởng mới nhắc nhiều tới quyết tâm mà ít bàn tới khắc phục những khó khăn trong trận đánh”. Gần ngày nổ súng, cơ quan tác chiến báo cáo: trung đoàn trưởng Hoàng Cầm ở 312 đề nghị trả lại bớt pháo, vì được trao quá nhiều pháo! Đây là hiện tượng cần chú ý. Chưa bao giờ một đơn vị đột kích lại từ chối pháo phối thuộc”. (Tổng tập Hồi ký, Sđd, tr.923)

Sử dụng cách đánh như thế nào cho hiệu quả, vừa hạn chế tổn thất vừa có thể giành thắng lợi, là biểu hiện rõ nhất tài cầm quân của người chỉ huy ngoài mặt trận. Đây lại là trận đánh quyết định. Điều đó khiến vị tư lệnh chiến dịch càng thêm băn khoăn, suy nghĩ. Đại tướng thổ lộ: “Tôi cảm thấy như cả tháng đã trôi qua. Mỗi ngày, tôi càng nhận thấy rõ là không thể đánh nhanh được. Lời Bác dặn trước lúc lên đường và nghị quyết Trung ương hồi đầu năm lại văng vẳng bên tai: Chỉ được thắng, không được bại, vì bại thì hết vốn!”.

Đại tướng hồi tưởng: “Đêm ngày 25.1.1954, tôi không sao chợp mắt. Đầu đau nhức. Đồng chí Thùy, y sĩ, buộc lên trán tôi một nắm ngải cứu. Tôi đã hiểu vì sao mọi người đều lựa chọn phương án đánh nhanh? Vấn đề tiếp tế khó khăn chỉ là một lý do. Chúng ta không phải hoàn toàn không có cách khắc phục khó khăn này. Lý do chính là e thời gian chuẩn bị kéo dài, địch sẽ tăng thêm quân, tập đoàn cứ điểm ngày càng mạnh, sẽ làm ta mất cơ hội tiêu diệt địch. Nhiều người cho rằng sự xuất hiện lần đầu của lựu pháo và cao xạ sẽ làm quân địch choáng váng. Nhưng chúng ta chỉ có vài ngàn viên đạn? Đặc biệt, mọi người đều tin vào khí thế của bộ đội khi xuất quân, tin vào sức mạnh tinh thần. Nhưng sức mạnh tinh thần cũng có những giới hạn. Không phải chỉ với sức mạnh tinh thần cao mà lúc nào cũng chiến thắng quân địch! Chúng ta cũng không thể giành thắng lợi với bất kể giá nào, vì phải giữ gìn vốn liếng cho cuộc chiến đấu lâu dài”. (Tổng tập Hồi ký, Sđd, tr.923, 924).

Ba khó khăn hiện lên rất rõ.

Thứ nhất, bộ đội chủ lực ta đến nay chỉ tiêu diệt cao nhất là tiểu đoàn địch tăng cường, có công sự vững chắc ở Nghĩa Lộ. Ở Nà Sản, chúng ta mới đánh vào vị trí tiểu đoàn, dưới tiểu đoàn, công sự dã chiến nằm trong tập đoàn cứ điểm, vẫn có những trận không thành công, bộ đội thương vong nhiều.

Thứ hai, trận này tuy ta không có máy bay, xe tăng, nhưng đánh hiệp đồng binh chủng bộ binh, pháo binh với quy mô lớn lần đầu, mà lại chưa qua diễn tập. Có trung đoàn trưởng xin trả lại pháo vì không biết phối hợp thế nào!

Thứ ba, bộ đội ta từ trước đến nay mới chỉ quen tác chiến ban đêm, ở những địa hình dễ ẩn náu. Chủ lực ta chưa có kinh nghiệm công kiên ban ngày trên địa hình bằng phẳng, với một kẻ địch có ưu thế về máy bay, pháo binh và xe tăng. Trận đánh sẽ diễn ra trên một cánh đồng dài 15 km, rộng 6-7 km...

Theo đại tướng thì tất cả mọi khó khăn đó đều “chưa được bàn bạc kỹ và tìm cách khắc phục”. Nhưng giờ giải quyết ra sao thì chính ông cũng chưa biết rõ...

Quyết định lịch sử của Đại tướng


 Pháo binh đã vào vị trí, các đại đoàn đều có mặt ở tuyến xung phong, nhưng Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã quyết định hoãn trận đánh, dù biết rằng sẽ tác động đến tinh thần bộ đội. Đây thực sự là lúc thể hiện bản lĩnh của một nhà cầm quân lớn.

Kế hoạch bị lộ

“Tôi nhận thấy phải cho các đơn vị rút khỏi trận địa để nghiên cứu một cách đánh khác dù bộ đội có thắc mắc. Phải chuyển từ phương án “đánh nhanh thắng nhanh” sang “đánh chắc tiến chắc”, Đại tướng hồi tưởng (Tổng tập Hồi ký, Sđd, tr.924, 925).

Cần nói thêm, mặc dù ta đã kéo hết pháo vào trận địa, nhưng ngày dự định nổ súng (chiều 25.1.1954) được quyết định lùi thêm 24 tiếng nữa, lý do là một chiến sĩ của ta bị địch bắt trước đó, sợ khai ra giờ nổ súng. Sau này, trong quá trình đọc các sách, hồi ký của phía Pháp, chúng tôi thấy đối phương đã nắm rõ ngày, giờ nổ súng của ta.


Về việc này, ông Lê Trọng Nghĩa, nguyên Cục trưởng Cục Quân báo trong thời gian diễn ra chiến dịch, kể lại: “Đêm 22.1, tôi nhận được tin “Địch biết rất rõ kế hoạch của ta đánh Điện Biên Phủ”. Sáng 23.1, sau khi tập hợp tin tức tình báo cả đêm, tôi đến trực tiếp báo cáo với Tổng tư lệnh về việc địch đã có được kế hoạch cụ thể của ta, đánh ở đâu, ngày giờ nào, cách đánh như thế nào. Việc làm của tôi là rất nguy hiểm, vì trong kỷ luật chiến trường, khi Bộ Tổng tư lệnh đã hạ quyết tâm, khi mệnh lệnh đã ban ra thì ở dưới nhất nhất thi hành, cấm tất cả các tướng sĩ không được nói khác đi, làm người chỉ huy nao núng.

Đại tướng nghe báo cáo, không phải đã tin ngay. Một cái rất đặc biệt là ông ra lệnh kiểm tra lại tin này. Trực tiếp tôi phải xác định lại tin này, không được qua báo cáo nữa... Ông Giáp cũng trực tiếp xuống tận lán của tình báo kỹ thuật, yêu cầu nguồn thu được tin địch biết động thái của ta giải thích. Trong các chiến dịch lớn, không bao giờ Tổng tư lệnh lại đi kiểm tra trực tiếp một chuyện nhỏ như thế. Tôi ra sát Điện Biên Phủ, dùng ống nhòm và tai nghe để kiểm tra tình hình, thấy nó vẫn đang nhảy dù xuống. Lúc bấy giờ các tướng lĩnh đã được phái đi đốc chiến hết, ở sở chỉ huy chẳng còn mấy người. Đến chiều, tôi tổng hợp và báo cáo lại Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tôi lại khẳng định là địch biết rất rõ kế hoạch của ta và có kế hoạch cụ thể để đối phó... Tôi cứ nhấn mạnh về việc kế hoạch của ta đã bị lộ, Đại tướng không kết luận gì, chỉ nói: “Báo cáo thế là được rồi”, nhưng ra lệnh cho tôi không được báo tin đó với bất kỳ ai, nhất là với cố vấn. Các ông cố vấn vẫn luôn xuống chỗ tôi hỏi han tình hình” (Chuyện những người làm nên lịch sử, NXB Chính trị quốc gia, H, 2009, tr.68).

Lui quân

Đại tá Hoàng Minh Phương kể lại: “Sáng 26.1, Đại tướng cho liên lạc gọi tôi lên gặp lúc 5 giờ. Lên đến nơi, thấy ông quấn đầu, ngồi trầm ngâm bên bàn tre. Tôi hỏi: “Anh nhức đầu hay sao mà quấn ngải cứu?”. Ông nói: “11 ngày đêm qua mình trăn trở, suốt đêm qua không ngủ, chiều nay trận đánh bắt đầu, nhưng những yếu tố thắng lợi không nắm chắc”. Ông bảo tôi báo với Trưởng đoàn cố vấn Vi Quốc Thanh là ông sang làm việc sớm”.

Cuộc làm việc sáng sớm ngày 26.1 với ông Vi Quốc Thanh được Đại tướng nhớ lại: “Ông Vi Quốc Thanh ngạc nhiên nhìn nắm ngải cứu trên trán tôi. Đồng chí ân cần hỏi thăm sức khỏe, rồi nói: Trận đánh sắp bắt đầu. Đề nghị Võ Tổng cho biết tình hình tới lúc này ra sao? Tôi đáp: Đó cũng là vấn đề tôi muốn trao đổi với đồng chí Trưởng đoàn. Qua theo dõi tình hình, tôi cho rằng địch không còn trong trạng thái lâm thời phòng ngự, mà đã trở thành một tập đoàn cứ điểm phòng ngự kiên cố. Vì vậy không thể đánh theo kế hoạch đã định... Tôi nói tiếp ba khó khăn lớn của bộ đội, rồi kết luận:

- Nếu đánh là thất bại

- Vậy nên xử trí thế nào?

- Ý định của tôi là ra lệnh hoãn cuộc tiến công ngay chiều hôm nay, thu quân về vị trí tập kết, chuẩn bị lại theo phương châm “đánh chắc tiến chắc”.

Sau giây lát suy nghĩ, đồng chí Vi nói: Tôi đồng ý với Võ Tổng, tôi sẽ làm công tác tư tưởng với các đồng chí trong đoàn cố vấn.

- Thời gian gấp. Tôi cần họp Đảng ủy để quyết định. Và đã có dự kiến cho 308 tiến về phía Luông Pha Băng, bộc lộ lực lượng chừng nào, kéo quân địch về hướng đó, không để chúng gây khó khăn khi quân ta kéo pháo ra...

Cuộc trao đổi giữa tôi với đồng chí Vi diễn ra khoảng hơn nửa giờ. Tôi nghĩ đồng chí Vi sẽ không dễ dàng thuyết phục các chuyên gia đã cho rằng chỉ có đánh nhanh thắng nhanh mới giành thắng lợi”. (Tổng tập Hồi ký, Sđd, tr.925, 926).

Cuộc họp bất thường của Đảng ủy Mặt trận Điện Biên Phủ được triệu tập ngay sáng 26.1.1954, chỉ trước giờ dự định nổ súng chừng 10 tiếng đồng hồ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Khi tôi quay về sở chỉ huy, các đồng chí trong Đảng ủy đã có mặt đông đủ. Tôi trình bày những suy nghĩ đã có từ lâu chung quanh cách đánh tập đoàn cứ điểm, những thay đổi quan trọng về phía địch từ sau hội nghị Thẩm Púa tới nay, ta vẫn giữ quyết tâm tiêu diệt địch ở Điện Biên Phủ, nhưng phải thay đổi cách đánh.

Mọi người im lặng một lúc. Anh Lê Liêm, Chủ nhiệm Chính trị, phát biểu:

- Đã động viên sâu rộng bộ đội về nhiệm vụ rồi, anh em đều rất tin tưởng, quyết tâm chiến đấu rất cao. Giờ nếu thay đổi thì giải thích cho bộ đội làm sao?

Anh Đặng Kim Giang, Chủ nhiệm Cung cấp, nói:

- Tôi thấy cứ giữ vững quyết tâm. Hậu cần chuẩn bị tới bây giờ đã khó khăn. Nếu không đánh ngay, sau này lại càng không đánh được.

Tôi nói: Tinh thần bộ đội là rất quan trọng, nhưng quyết tâm phải có cơ sở... Hậu cần là điều kiện tiên quyết, nhưng cuối cùng, quyết định là phải có cách đánh đúng.

Đồng chí Hoàng Văn Thái nói:

- Anh Văn cân nhắc cũng phải... Nhưng lần này ta có ưu thế về binh lực, pháo 105 và pháo cao xạ xuất hiện lần đầu sẽ tạo bất ngờ lớn, lại có kinh nghiệm của bạn, tôi thấy nếu đánh vẫn có khả năng giành thắng lợi.

Trao đổi một hồi chưa đi tới kết luận, cuộc họp tạm dừng một lát. Khi cuộc họp tiếp tục, tôi nói:

- Tình hình khẩn trương. Cần sớm có quyết định. Vô luận tình hình nào, chúng ta vẫn phải nắm nguyên tắc cao nhất là: Đánh chắc thắng. Trước khi tôi ra đi, Bác trao nhiệm vụ: “Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh”. Với tinh thần trách nhiệm trước Bác và Bộ Chính trị, tôi đề nghị các đồng chí trả lời câu hỏi: “Nếu đánh có chắc thắng trăm phần trăm không?”.

Anh Lê Liêm nói: Anh Văn nêu câu hỏi thật khó trả lời. Ai dám bảo là sẽ chắc thắng trăm phần trăm!

Anh Đặng Kim Giang nói tiếp: Làm sao dám đảm bảo như vậy!

Tôi nghĩ với trận này, ta phải đảm bảo chắc thắng trăm phần trăm.

Bây giờ anh Hoàng Văn Thái mới nói: Nếu yêu cầu chắc thắng trăm phần trăm thì khó...

Lát sau, Đảng ủy đi tới nhất trí là trận đánh có thể gặp nhiều khó khăn mà ta chưa có biện pháp cụ thể để khắc phục.

Tôi kết luận: Để đảm bảo nguyên tắc cao nhất là “đánh chắc thắng”, cần chuyển phương châm tiêu diệt địch từ “Đánh nhanh thắng nhanh” sang “Đánh chắc tiến chắc”. Nay quyết định hoãn cuộc tiến công. Ra lệnh cho bộ đội trên toàn tuyến lui về địa điểm tập kết, và kéo pháo ra. Công tác chính trị bảo đảm triệt để chấp hành mệnh lệnh lui quân như mệnh lệnh chiến đấu. Hậu cần chuyển sang chuẩn bị theo phương châm mới.

Sau đó, tôi phân công cho anh Hoàng Văn Thái ra lệnh cho các đơn vị bộ binh, tôi ra lệnh cho pháo binh và trao nhiệm vụ mới cho 308.

Tôi gọi điện thoại cho pháo binh: Tình hình địch đã thay đổi.

Quyết tâm tiêu diệt Trần Đình (bí danh của Điện Biên Phủ trong chiến dịch) vẫn giữ vững. Nay thay đổi cách đánh. Vì vậy, ra lệnh cho các đồng chí từ 17 giờ hôm nay, kéo pháo ra khỏi trận địa, lui về địa điểm tập kết, chuẩn bị lại. Triệt để chấp hành mệnh lệnh”. (Tổng tập Hồi ký, Sđd, tr.927, 928).

Đại đoàn chủ công của đồng chí Vương Thừa Vũ cũng nhận được lệnh của Đại tướng nhanh chóng tiến sang hướng Luông Pha Băng (Lào) ngay 4 giờ chiều hôm đó, không được hỏi lý do hoãn nổ súng. Các chỉ huy đơn vị đều triệt để chấp hành mệnh lệnh. Đại tướng kể lại: “Tình hình lúc này không cho phép dùng điện đài báo cáo với Trung ương, ngay tối hôm đó tôi viết thư hỏa tốc đề nghị Bộ Chính trị và Bác cho chuyển sang phương châm “Đánh chắc tiến chắc” quyết giành thắng lợi nhưng chiến dịch sẽ phải kéo dài, cần khắc phục những khó khăn lớn về hậu cần. Đồng chí Nguyễn Công Dinh, một cán bộ tác chiến, được lệnh dùng chiếc xe Jeep duy nhất của cơ quan tham mưu, mang thư đi gấp suốt ngày đêm về khu căn cứ. Trong ngày hôm đó, tôi đã thực hiện được một quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của mình”. (Tổng tập Hồi ký, Sđd, tr.929).

Các tin khác
Thông tin mới
.
 




Flag Counter