Kháng chiến chống Mỹ
Lực lượng Đặc công trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975
10:14 | 13/04/2015
Đặc công là binh chủng chiến đấu “Đặc biệt tinh nhuệ” của Quân đội nhân dân Việt Nam. Tiêu biểu của nghệ thuật tác chiến đặc công là: “Lấy ít đánh nhiều, lấy chất lượng thắng số lượng, lấy thô sơ thắng hiện đại”.

Trong thời điểm quân và dân cả nước đang chuẩn bị bước vào cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, Hội nghị tổng kết Đặc công lần thứ hai đã đánh giá: Thành công lớn nhất của đặc công là trong hai năm 1973-1974, hệ thống tổ chức lực lượng Đặc công phát triển hoàn chỉnh, đồng bộ, chất lượng được nâng lên tạo được thế sâu hiểm và vững chắc, cơ quan chỉ huy, chỉ đạo các cấp có kinh nghiệm sử dụng lực lượng Đặc công, trang bị vũ khí được cải tiến đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ đặt ra, đồng thời đã tạo được thế và lực mới để sẵn sàng tiến công địch.

Ảnh minh họa/qdnd.vn

 

Ngày 5-6-1974, Tiểu đoàn Đặc công Biệt động 1 được nâng cấp thành Đoàn Đặc công Biệt động 1. Ở miền Nam, lực lượng Đặc công tiếp tục củng cố và phát triển. Ngày 20-3-1974, Bộ chỉ huy Miền quyết định thành lập Lữ đoàn Đặc công Biệt động 316 làm nhiệm vụ hoạt động tác chiến ở vùng ven và nội đô Sài Gòn. Lực lượng gồm có 4 tiểu đoàn đặc công vùng ven, 13 cụm biệt động nội đô. Tháng 4-1974, Bộ chỉ huy Miền ra quyết định chuyển Đoàn Đặc công 27 thành Sư đoàn Đặc công 2 (bao gồm 7 trung đoàn).

 

Ở Tây Nguyên, ngày 19-8-1974, Trung đoàn Đặc công 198 ra đời, làm nhiệm vụ cơ động trên chiến trường Tây Nguyên. Như vậy, trước ngày Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, lực lượng Đặc công ở miền Nam gồm có 1 sư đoàn, 1 lữ đoàn, 5 trung đoàn, 36 tiểu đoàn, 121 đại đội và hàng trăm trung đội, tiểu đội, tổ Biệt động của huyện, thị, xã phường. Đây chính là công tác tổ chức chuẩn bị và tập trung lực lượng Đặc công cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 với quy mô lớn, có kế hoạch chặt chẽ, chu đáo, toàn diện, tập trung cao nhất cho chiến dịch.

 

Ngày 10-3-1975, ta quyết định mở Chiến dịch Tây Nguyên, thực hiện cách đánh hiệp đồng binh chủng, với luồn sâu đánh hiểm, bất ngờ táo bạo từ bên trong, tạo điều kiện cho các đơn vị đột phá từng mục tiêu chủ yếu.

 

Trong Chiến dịch Tây Nguyên, Bộ đội Đặc công được xác định là một lực lượng quan trọng của chiến dịch, được sử dụng đánh chiếm, trụ giữ một số mục tiêu then chốt, quan trọng trong thị xã, khống chế phá hoại sân bay, kho tàng, sở chỉ huy, kiềm chế nghi binh thu hút địch. Trung đoàn Đặc công 198 được giao nhiệm vụ đánh trận mở màn chiến dịch, ngay từ ngày đầu sử dụng đồng thời Tiểu đoàn 4, 5, 27 bí mật luồn sâu lót sát các mục tiêu, bất ngờ nổ súng đánh chiếm Sân bay thị xã Buôn Ma Thuột, Sân bay Hòa Bình, kho đạn Mai Hắc Đế, căn cứ Trung đoàn 44, Trung đoàn 53, Sư đoàn 23 ngụy, thực hiện chia cắt địch trong thị xã Buôn Ma Thuột. Ở Plei-cu - Kon Tum, sử dụng 2 tiểu đoàn Đặc công tập kích bí mật kho xăng Pơ-ti-cơ-rông tập kích hỏa lực vào Sân bay Cù Hanh (Kon Tum), đánh chiếm Trung tâm truyền tin PuPđrăng; ở Đức Lập, 1 tiểu đoàn Đặc công đánh cụm quân địch ở Đắc Soong. Tham gia chiến dịch cùng Trung đoàn Đặc công 198 còn có 1 sư đoàn, 2 trung đoàn bộ binh, 2 trung đoàn pháo binh, 3 trung đoàn cao xạ và một số tiểu đoàn xe tăng.

 

 Trong các chiến dịch Trị Thiên-Huế, Đà Nẵng, lực lượng Đặc công Quân khu 5, Tiểu đoàn 35 Bộ tư lệnh Đặc công, Tiểu đoàn 10, Tiểu đoàn 33 của Trị Thiên trực tiếp tham gia chiến dịch. Ngày 29-3-1975, các tiểu đoàn 35, 471, 489 đã tham gia đánh chiếm một số mục tiêu quan trọng như: Phước Tường, Sủng Mây, Sân bay Đà Nẵng, trung tâm huấn luyện Hòa Cầm, cầu Trịnh Minh Thế. Từ ngày 11 đến 29-4-1975, Đội 4-Đoàn 126 Đặc công Hải quân và 1 phân đội của Đặc công Quân khu 5, phối hợp hiệp đồng thực hành đánh chiếm lại các đảo: Song Tử Tây, Nam Yết, Sinh Tồn, Sơn Ca, giải phóng quần đảo Trường Sa.

 

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, lực lượng Đặc công tham gia gồm: Lữ Biệt động 316, 7 trung đoàn, 6 tiểu đoàn, 11 đại đội, và nhiều tổ Biệt động nội tuyến Sài Gòn. Lực lượng Đặc công trong chiến dịch đã đánh chiếm trước 14 cây cầu, án ngữ trên đường tiến vào Sài Gòn, một số căn cứ địch như: Cầu Ghềnh, cầu Sa Lộ, cầu Rạch Chiếc, Trường Sĩ quan Thiết giáp ngụy, Thiết đoàn 15, Căn cứ ra-đa ở Phú Lâm. Tập kích hỏa lực sau đó chiếm giữ Sân bay Tân Sơn Nhất, vít chặt sông Lòng Tàu, Đặc công Biệt động đánh chiếm một số mục tiêu quan trọng bên trong như: Bộ Tổng tham mưu, Tổng Nha cảnh sát ngụy, hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy ở một số khu vực trong thành phố, tạo điều kiện thuận lợi cho Quân đoàn 2 và Quân đoàn 4 tiến vào đánh chiếm phủ Tổng thống ngụy. Ngày 30-4-1975, Đặc công Biệt động đánh chiếm nhiều mục tiêu ở ven đô và nội thành như: Tập kích hai tòa nhà Thượng nghị viện, Hạ nghị viện ngụy Sài Gòn: Các đội Z23, Z30, Z36 đánh chiếm Chi khu cảnh sát, Trại biệt kích Duyên Hồng, Tổng Nha cảnh sát ngụy, hỗ trợ cho nhân dân quận 10 nổi dậy giành chính quyền.

 

Có thể khẳng định rằng, chưa bao giờ ta sử dụng lực lượng Đặc công với số lượng lớn và đảm nhiệm đồng thời nhiều mục tiêu quan trọng như vậy. Trong quá trình chiến đấu hiệp đồng với các binh chủng như: Xe tăng, bộ binh, pháo binh, pháo phòng không và các lực lượng khác tham gia chiến dịch, lực lượng Đặc công đã làm tốt công tác hiệp đồng tác chiến, bảo đảm chặt chẽ, nhịp nhàng, ăn khớp, tạo điều kiện thuận lợi cho các lực lượng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần vào thắng lợi của chiến dịch.

 

Chiến dịch Hồ Chí Minh là đỉnh cao của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Trong chiến dịch lịch sử này, Bộ đội Đặc công đã tham gia với lực lượng lớn nhất từ trước tới nay; tập trung sử dụng các đơn vị theo đúng chức năng sở trường, phối hợp tác chiến nhịp nhàng với các binh chủng, đơn vị và các cánh quân trong chiến dịch. Chưa bao giờ cách đánh đặc công được thể hiện sinh động, phong phú như trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Đây là mốc son đánh dấu bước phát triển đỉnh cao của Bộ đội Đặc công về lực lượng tham gia, vũ khí trang bị, công tác bảo đảm hậu cần-kỹ thuật, nghệ thuật sử dụng lực lượng Đặc công, khả năng, hiệu quả tác chiến chiến dịch, đặc biệt là tác chiến hiệp đồng trong chiến dịch quy mô lớn.

 

Những bài học kinh nghiệm về sử dụng lực lượng Đặc công trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Đây chính là sản phẩm, kết quả tư duy sáng suốt của người lãnh đạo, chỉ huy và cơ quan tham mưu các cấp, đã nắm chắc và sử dụng đúng sở trường, khả năng và thực lực của lực lượng Đặc công.

 

Trong tác chiến bảo vệ Tổ quốc hiện nay và trong tương lai, đối tượng tác chiến sẽ có những phát triển mới so với chiến tranh giải phóng, từ quan điểm, phương pháp đến thủ đoạn tác chiến, đặc biệt là địch sử dụng vũ khí công nghệ cao, trong đó có các loại phương tiện, khí tài trinh sát, quan sát hiện đại sẽ tạo ra chiến trường “trong suốt” ngày cũng như đêm. Vì vậy,  trong quá trình tổ chức, sử dụng lực lượng Đặc công trong tác chiến chiến dịch cần phải có quan điểm xem xét, đánh giá khách quan, toàn diện và phát triển, để nghiên cứu vận dụng những kinh nghiệm về tổ chức, sử dụng lực lượng cho phù hợp với điều kiện cụ thể, nhằm sử dụng và phát huy có hiệu quả nghệ thuật tác chiến Đặc công trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc tương lai.

Đại tá, Ths NGUYỄN TRỌNG MINH  - Phó chủ nhiệm Khoa Chiến thuật, Trường Sĩ quan Đặc công / qddn.vn

Các tin khác
Thông tin mới
.
 




Flag Counter