Hệ thống quân sự
Tổ chức
05:39 | 22/08/2013
Lực lượng vũ trang Việt Nam chia làm 3 thứ quân: Chủ lực, Địa phương và Dân quân-Tự vệ. Trừ Dân quân-Tự vệ là lực lượng bán quân sự, còn lại là quân đội chuyên nghiệp và được tổ chức chính quy.
Cấp tổ chức của Quân đội Nhân dân Việt Nam từ thấp đến cao là Tiểu đội, Trung đội, Đại đội, Tiểu đoàn, Trung đoàn, Lữ đoàn, Sư đoàn (trước đây gọi là Đại đoàn). Cấp cao nhất là Quân đoàn (Binh đoàn), cả thảy có 4 quân đoàn là các quân đoàn 1, 2, 3, 4. Đây chính là quân chủ lực cơ động.
Từ cấp tiểu đoàn trở lên ban chỉ huy gồm cấp trưởng, cấp phó, tham mưu trưởng và cấp phó phụ trách công tác chính trị, theo chế độ một thủ trưởng. Trước đây, khi thực hiện chế độ "2 thủ trưởng", thì ngoài thủ trưởng quân sự (đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng...), từ cấp đại đội trở lên còn có thủ trưởng chính trị, được gọi là chính trị viên (ở cấp đại đội và tiểu đoàn) hoặc chính ủy (ở cấp trung đoàn trở lên). Cấp thủ trưởng chính trị này từ sau chiến tranh chống Mỹ đã chuyển thành cấp phó phụ trách công tác chính trị.
Tổ chức quân đội chia ra 2 loại: Quân cơ động và quân đồn trú. Quân cơ động là lực lượng chủ lực tiến công cơ động, không gắn cố định với địa dư đóng quân. Quân đồn trú để bảo vệ địa phương mình đồn trú và xây dựng quân sự địa phương.
Quân cơ động: Quân đoàn 1, còn gọi là Binh đoàn Quyết Thắng, được thành lập ngày 24 tháng 10 năm 1973 tại Ninh Bình. Quân đoàn 2, còn gọi là Binh đoàn Hương Giang, được thành lập ngày 17 tháng 5 năm 1974 tại Thừa Thiên-Huế. Quân đoàn 3, còn gọi là Binh đoàn Tây Nguyên, được thành lập ngày 26 tháng 3 năm 1975 tại Tây Nguyên. Quân đoàn 4, còn gọi là Binh đoàn Cửu Long, được thành lập ngày 20 tháng 7 năm 1974 tại miền Đông Nam Bộ.
Quân đồn trú: Về mặt địa lý, đơn vị quân sự cao nhất là Quân khu, chỉ huy quân địa phương và một số binh đoàn, binh đội trực thuộc. Chức năng cơ bản của Quân khu là tác chiến bảo vệ lãnh thổ được phân cho mình, xây dựng nền quốc phòng toàn dân ở địa phương tại quân khu. Toàn quốc Việt Nam hiện nay chia thành 8 quân khu gồm các quân khu 1 (khu vực vùng núi tả ngạn sông Hồng- vùng Việt Bắc), quân khu 2 (khu vực các tỉnh miền núi hữu ngạn sông Hồng - vùng Tây Bắc), quân khu 3 (các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ), quân khu 4 (các tỉnh Bắc Trung bộ: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế), quân khu 5 (các tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên), quân khu 7 (Đông Nam Bộ), quân khu 9 (Tây Nam Bộ) và quân khu Thủ đô (Hà Nội và địa bàn xung quanh).
Theo cơ cấu ngành dọc, Quân đội Nhân dân Việt Nam có Quân chủng chia theo môi trường tác chiến và Binh chủng là loại đơn vị kỹ thuật. Hiện nay, Việt Nam có 3 quân chủng là: Lục quân, Hải quân, Phòng không-Không quân. Ngoài ra, Bộ đội Biên phòng được xếp ngang với các Quân chủng.
Các chức vụ cao nhất trong Quân đội Nhân dân Việt Nam gồm Tổng Tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, có cấp bậc quân hàm cao nhất là Đại tướng.
Đảng ủy Quân sự Trung ương, gọi tắt là Quân ủy Trung ương, là cơ quan lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Quân đội Nhân dân Việt Nam, được thành lập vào tháng 1 năm 1946.
Ngoài ra, Việt Nam có chức vụ Bộ trưởng Quốc phòng cũng thuộc giới quân nhân, và từng có chức vụ Tổng tư lệnh do Võ Nguyên Giáp nắm giữ.
Các tin khác
Thông tin mới
.
 




Flag Counter