Các loại súng
Pháo phòng không tầm ngắn trên chiến hạm
11:07 | 17/04/2014
CIWS (Close-in Weapon System) là vũ khí phòng thủ điểm để phát hiện và tiêu diệt các mục tiêu bay của đối phương đã xâm nhập và vượt qua hệ thống phòng thủ bên ngoài

Hệ thống vũ khí đánh gần (CIWS - Close-in Weapon System) là một vũ khí phòng thủ điểm để phát hiện và tiêu diệt các tên lửa đang bay tới ở cự ly ngắn hay máy bay của đối phương đã xâm nhập và vượt qua hệ thống phòng thủ bên ngoài. Hệ thống CIWS được coi là lớp phòng thủ cuối cùng của chiến hạm. Một số hệ thống CIWS tiêu biểu hiện nay gồm:

1. Hệ thống Phalanx:

Những lá chắn cuối cùng của chiến hạm

Thông số cơ bản:

Trọng lượng: 5.700 - 6.200 kg

Chiều dài nòng pháo: 1.520 mm (block 0 &1); 1.981 mm (block 1B)

Loại đạn: 20x102 mm

Tốc độ bắn: 3.000 - 4.500 phát/phút

Sơ tốc đạn: 1.100 m/s

Tầm bắn hiệu quả: 3.600 m
Góc xoay ngang: -1500 - +1500 - Tốc độ: 1000/giây (block 0&1); 1160/giây (block 1B)
Góc nâng hạ: -100/+800 (block 0); -200/+800 (block 1) - Tốc độ 860/giây
                      -250/+850 (block 1B) - Tốc độ 1150/giây

Hệ thống Phalanx Mark15 là tổ hợp khép kín tích hợp bao gồm pháo, đạn và radar lắp trên 1 bệ duy nhất. Hệ thống được General Dynamics nay là Raytheon Systems phát triển vào cuối những năm 1960, có thể lắp đặt trên bất kỳ tàu mặt nước nào mà không cần có sự sửa đổi lớn, hệ thống Phalanx hiện được trang bị trên hầu hết các tàu chiến mặt nước của Mỹ và tàu chiến của hơn 20 quốc gia khác.

Hệ thống Phalanx gồm pháo 6 nòng bắn nhanh Gatling M61A1 Vulcan có tốc độ bắn 4.500 phát/phút cùng một radar băng Ku được chế tạo theo công nghệ chỉ điểm khép kín, có khả năng tìm kiếm, phát hiện, đánh giá, bám bắt và giao chiến hoàn toàn tự động. Các loại đạn có thể bắn gồm đạn xuyên giáp vỏ tự huỷ (APDS) 20 mm sử dụng đầu xuyên 15 mm bằng kim loại nặng (vonfram hoặc uran nghèo) được bao quanh bằng một guốc đạn plastic và một phần đáy kim loại nhẹ.

Cấu hình ban đầu của hệ thống Phalanx sử dụng cho các tàu củahải quân Mỹ được gọi là Block 0 nhằm tạo ra lớp phòng thủ tầm ngắn chống lại các loại tên lửa đối hạm siêu âm ít vận động bay thấp. Cấu hình nâng cấp Block 1A trang bị một máy tính ngôn ngữ lập trình bậc cao cho tốc độ xử lý tốt hơn; các thuật toán điều khiển hoả lực đã được cải thiện để đối phó với những mục tiêu có tính cơ động cao, tìm kiếm các toạ độ vũ khí để quản lý tác chiến tốt hơn và chức năng kiểm tra toàn bộ (từ đầu đến cuối) để xác định những sai hỏng hệ thống; nâng cấp chế độ mặt biển. Block 1B nâng cấp trên cấu hình hiện có của Block 1A với việc bổ sung các nòng pháo được tối ưu hóa (Optimised Gun Barrels - OGB), có tuổi thọ nòng cao hơn, độ tản mát khi bắn được cải thiện và cự ly tác chiến tăng lên đáng kể

Cấu hình Block 1A và 1B có khả năng bao quát lớn hơn, dung tích thùng chứa đạn tăng từ 989 viên lên tới 1.550 viên, tăng tốc độ bắn lên 4.500 phát/phút so với 3.000 phát/phút đời đầu. Hệ thống Phalanx cũng có thể kết nối với bất kỳ hệ thống chiến đấu nào của tàu để cung cấp khả năng điều khiển khiển hoả lực cũng như có thể chỉ thị mục tiêu cho các vũ khí phòng thủ khác như tên lửa Rim-116 Rolling Airframe.

2. Hệ thống Goalkeeper

Những lá chắn cuối cùng của chiến hạm

Thông số cơ bản:

Trọng lượng: 9.902 kg

Loại đạn: 30x173 mm

Tốc độ bắn: 4.200 phát/phút

Sơ tốc đạn: 1.109 m/s

Tầm bắn hiệu quả: 350 - 2.000 m

Góc xoay ngang: 3600 - Tốc độ 1000/giây

Góc nâng hạ: -250/+850 - Tốc độ 800/giây

Hệ thống CIWS 30 mm Goalkeeper do hãng Thales Nederland trước đây là Thomson - CSF Signaal phát triển từ năm 1975 và hoàn thành vào năm 1979, là hệ thống vũ khí trên tàu hải quân có chức năng phòng thủ tầm gần chống tên lửa hành trình đối hạm và máy bay bay thấp. Hệ thống có thể hoạt động một cách tự động hoàn toàn từ giám sát, phát hiện đến tiêu diệt mục tiêu kể cả việc lựa chọn mục tiêu ưu tiên kế tiếp. Khi mục tiêu được phát hiện, hệ thống sẽ đánh giá mối đe doạ và xác định mục tiêu ưu tiên, mục tiêu được chỉ điểm và bám bằng các radar làm việc trên băng tần K/I.

Hệ thống Goalkeeper gồm 1 radar sục sạo công suất cao làm việc trên băng tần I, 1 radar bám bắt mục tiêu làm việc trên băng tần I/K, 1 hệ thống điều khiển vũ khí và 1 pháo 30 mm 7 nòng GAU-8/A của General Electric có tốc độ bắn 4.200 phát/phút được lắp trên một bệ pháo tích hợp. Hệ thống có khả năng nhận dạng mục tiêu và khởi động bám bắt tự động đối với mục tiêu nguy hiểm nhất. Goalkeeper có thể được tích hợp với hệ thống trinh sát, giám sát tình báo và chỉ điểm mục tiêu (IRST) trên tàu để làm việc theo chế độ thụ động, đồng thời dữ liệu radar còn được dùng để bổ sung cho tham số giao chiến và là nguồn dữ liệu đối chiếu thứ hai nhằm giảm xác suất bám phải mục tiêu giả.

Một điều rất đáng lưu ý đó là trong khi các hệ thống CIWS khác thường thử nghiệm khả năng với mục tiêu là bia bay hoặc tên lửa đối hạm đã lạc hậu thì hệ thống Goalkeeper đã chứng tỏ năng lực của mình khi nhiều lần đánh chặn thành công tên lửa Exocet.

Thí nghiệm đánh chặn thành công tên lửa Exocet của hệ thống Goalkeeper

Thí nghiệm đánh chặn thành công tên lửa Exocet của hệ thống Goalkeeper

Với độ tin cậy rất cao, hệ thống Goalkeeper đã được được nhiều nước trong và ngoài châu Âu tin dùng. Hàn Quốc đã mua một số hệ thống Goalkeeper để lắp đặt trên tàu hải quân của mình và Trung Quốc cũng cho ra đời 1 bản copy được định danh là Type 730. Việc các tàu Sigma 9814 của Hải quân Việt Nam sẽ không được trang bị hệ thống Goalkeeper là một điều vô cùng đáng tiếc.

3. Hệ thống Type 730

Những lá chắn cuối cùng của chiến hạm

Thông số cơ bản:

Trọng lượng: khoảng 8.000 kg

Loại đạn: 30x173 mm

Tốc độ bắn: 4.200 - 5.800 phát/phút

Sơ tốc đạn: 1.021 m/s

Tầm bắn hiệu quả: 2.500 m

Hệ thống CIWS Type 730 của Trung Quốc gồm 1 pháo bắn nhanh 30 mm 7 nòng copy nguyên mẫu pháo GAU-8/A của General Electric, 1 radar điều khiển cùng 1 hệ thống bám quang điện tử được lắp trên tháp pháo bọc kín hoàn toàn tự động. Hệ thống chủ yếu được sử dụng để phòng thủ trước tên lửa đối hạm nhưng cũng có thể chống lại máy bay, tàu mặt nước, xuồng nhỏ, các mục tiêu ven bờ và thủy lôi. Mặc dù có hình dáng bên ngoài rất giống với hệ thống Goalkeeper của châu Âu, thậm chí nhiều ý kiến còn cho rằng đó là một bản copy nhưng thực tế Type 730 sử dụng radar và hệ thống quang học do Trung Quốc tự chế tạo. Trung Quốc hiện đang phát triển một phiên bản mới của hệ vũ khí này với các tên lửa lắp kèm bên trên nhưng không giống như hệ thống Kashtan hay Palma của Nga, bên cạnh đó Type 730 còn có thêm 2 biến thể là Type 1030 và Type 1130 trang bị pháo 30 mm 10 và 11 nòng.

Pháo của hệ thống Type 730 do Viện nghiên cứu 713 thiết kế với mật danh là “Dự án 850”. Một biến thể của radar băng I/X EFR-1 (NATO gọi là Rice Lamp) cùng hệ thống điều khiển hoả lực quang điện tử OFC-3 do viện nghiên cứu quang điện tử trung ương Trung Quốc thiết kế. Hệ thống OFC-3 gồm các module: 1 máy đo xa laser, 1 camera truyền hình màu và 1 camera hồng ngoại. Máy đo xa laser có thể được thay bằng thiết bị chỉ điểm laser, camera truyền hình có thể được thay bằng camera quan sát ban đêm, và camera hồng ngoại cũng có thể được thay bằng kính khuếch đại ảnh hồng ngoại với giá thành đắt hơn. Radar của hệ thống có thể bám các mục tiêu bay sát mặt biển từ cự ly 8 km với những mục tiêu nhỏ và tới 15 đến 20 km với những tiêu lớn nhưng chỉ có thể tác chiến ở cự ly ngắn hơn nhiều do bị hạn chế bởi tầm bắn hiệu quả của pháo.

Hệ thống Type 730 đã được lắp trên các tàu khu trục Type 051C, 052B, 052C và dự kiến sẽ được trang bị cho một số tàu chiến cũ hơn cũng như được coi là vũ khí tiêu chuẩn cho tất cả các tàu mặt nước thế hệ mới như các tàu hộ vệ Type 054A hay Type 056.

4. Pháo tự động AK-630M

Những lá chắn cuối cùng của chiến hạm (II)

Thông số cơ bản:

Trọng lượng: 1.800 kg

Loại đạn: 30x165 mm

Tốc độ bắn: 5.000 phát/phút

Sơ tốc đạn: 900 m/s

Tầm bắn hiệu quả: 4.000 m (Mục tiêu máy bay)

Góc xoay ngang: 3600 -Tốc độ 700/giây

Góc nâng hạ: -120/ 880 - Tốc độ 500/giây

Hệ thống pháo tự động 6 nòng 30mm AK-630M là sản phẩm của hãng Tulamashzavod (Nga), ra đời từ năm 1976. AK-630M được thiết kế để tiêu diệt các mục tiêu bay như tên lửa đối hạm, máy bay, và các loại phương tiện tấn công đường không khác cũng như tàu nổi có lượng giãn nước nhỏ, ngư lôi, các hỏa điểm và binh lực bờ biển của đối phương.

Pháo AO-18 của hệ thống có cơ cấu xoay với 6 nòng được làm mát liên tục, có thể bắn với tốc độ 5.000 phát/phút, vận tốc đầu nòng đạt 900 m/s có khả năng bắn rơi các tên lửa đang bay đến ở cự ly lên tới 4 km. Tháp pháo được điều khiển từ xa bởi radar kiểm soát hỏa lực MR-123 Turel và đài quan sát hỗ trợ. Pháo bắn được đạn nổ phá mảnh OF-84 hoặc đạn vạch đường phá mảnh OR-84, hộp tiếp đạn của pháo dạng băng tự động chứa được 2.000 viên đạn và khoảng 1.000 viên dự trữ trong một thùng chứa khác, một cơ cấu khóa nòng cơ khí dùng để nạp đạn và hất vỏ đạn sau khi bắn.

Hệ thống pháo tự động AK-630M được lắp đặt trên hầu hết các tàu chiến mặt nước của hải quân Nga, được xuất khẩu sang Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam để trang bị cho các tàu tên lửa cỡ nhỏ Molniya, tàu hộ vệ tên lửa Gepard, tàu pháo tuần traSvetlyak hay TT-400TP.

5. Pháo tự động AK-630M2 Duet

Những lá chắn cuối cùng của chiến hạm (II)

Tại triển lãm hàng hải quốc tế IMDS-2007, Tulamashzavod đã giới thiệu một bản nâng cấp của AK-630M có tên gọi AK-630M2 Duet với nhiều khác biệt về hình dáng đặc biệt là tháp pháo có cấu tạo góc cạnh thay vì tháp pháo tròn như thế hệ trước. Thiết kế này giúp tăng khả năng tàng hình trước radar đối phương, hạn chế đến mức thấp nhất khả năng bị tấn công. Trọng lượng của hệ thống tăng thêm 700 kg so với phiên bản cũ lên 2.500kg. Tốc độ xoay ngang của pháo tăng lên 800/giây và góc nâng hạ cũng tăng lên -250/ 900, tốc độ 600/giây.

Trái tim của AK-630M2 Duet vẫn là 2 pháo ổ quay tự động 6 nòng AO-18 30mm, khoảng cách giữa trục của 2 khẩu pháo là 320 mm. Pháo có khả năng điều chỉnh tốc độ bắn từ 4.000 phát/phút lên tới 10.000 phát/phút, tầm bắn tối đa lên đến 8.100m, tầm bắn hiệu quả đối với các mục tiêu mặt đất, mặt nước và trên không là 4.000-5.000m. Đạn của AK-630M2 tương tự AK-630M gồm đạn nổ phá mảnh OF-84 và đạn vạch đường phá mảnh OR-84.

Duet sử dụng hệ thống kiểm soát bắn Vimpel-AM2 với radar MR-123AM2 và MR-176M2. Ngoài ra pháo còn được trang bị máy đo xa laser KM-11-1 và LDM-1 Cruiser. Trong thử nghiệm, AK-630M2 đã bắn rơi 1 bia bay mô phỏng tên lửa đối hạm bay ở độ cao 10m chỉ với 200 phát đạn, 1 hiệu suất đáng nể.

Hiện nay, hải quân Nga đã trang bị AK-630M2 Duet cho các tàu hộ vệ tên lửa tàng hình cỡ nhỏ dự án 21631 Buyan-M.

6. Hệ thống pháo/ tên lửa Kashtan

Những lá chắn cuối cùng của chiến hạm (II)

Thông số cơ bản:

Trọng lượng: 15.500 kg (12.500 kg - Kashtan-M)

Loại đạn: 30x165 mm (AO-18); Tên lửa: 9M311 Sosna-R

Tốc độ bắn: 10.000 phát/phút - Giãn cách giữa 2 lần phóng tên lửa: 3 giây

Sơ tốc đạn: 960 m/s; Tên lửa: 1.100 m/s

Tầm bắn hiệu quả: Pháo: 300-4.000 m; Tên lửa: 1.500-8.000 m, độ cao 3.500 m

Góc xoay ngang: 360-Tốc độ 700/giây

Góc nâng hạ: -250/ 900 - Tốc độ 500/giây

Hệ thống pháo-tên lửa phòng không kết hợp Kashtan ra mắt năm 1988, cung cấp khả năng tự vệ cho các tàu mặt nước chống lại máy bay, tên lửa đối hạm hoặc tên lửa chống radar cũng như tác chiến chống các mục tiêu nhỏ ven bờ và trên biển.

Hệ thống có kết cấu module gồm module chỉ huy và các module chiến đấu (từ 1 đến 6 tuỳ theo lượng giãn nước của tàu), trên các tàu lớn mỗi module chiến đấu có thể chứa tới 32 tên lửa phòng không. Module chỉ huy và điều khiển hỏa lực có khả năng phát hiện, nhận dạng, bắt bám và truyền dữ liệu cho các module chiến đấu. Module chiến đấu bao gồm một bệ pháo - tên lửa, hệ thống điều khiển hỏa lực bằng radar và thiết bị ngắm quang học, hệ thống máy tính và hệ thống phát điện. Hệ thống này tự động tiếp nhận thông số về mục tiêu, bám và tiêu diệt chúng bằng pháo hoặc tên lửa thông qua kênh radar hoặc quang truyền hình. Hệ thống Kashtan còn có thêm khoang chứa và máy nạp (chứa 32 tên lửa, mỗi bệ với 4 ống phóng kiêm container bảo quản, có thể tái nạp tên lửa trong vòng 1,5 phút).

Hệ thống Kashtan sử dụng tên lửa phòng không 2 tầng nhiên liệu rắn 9M311 Sosna-R với đầu đạn nổ mảnh tạo nên lớp phòng thủ thứ nhất. Bệ pháo phòng không gồm 2 pháo bắn nhanh 6 nòng AO-18KD có nhiệm vụ giải quyết nốt những mục tiêu mà tên lửa để lọt; pháo vận hành bằng khí nén, làm mát bằng nước với một hệ thống tiếp đạn đơn giản (dung tích 1.000 viên) và một hệ thống làm mát kiểu bay hơi tự động .

Kashtan có thể được lắp trên tàu có lượng giãn nước từ 400 tấn trở lên. Các tàu nhỏ được lắp một module Kashtan duy nhất còn các tàu lớn có thể lắp các module chiến đấu ở cả hai bên mạn tàu. Một module chỉ huy có thể điều khiển tới 6 module chiến đấu tạo ra hoả lực bảo vệ tin cậy cho tàu chiến chống lại đội hình gồm 3 đến 4 tên lửa đang bay tới.

Tàu sân bay Đô đốc Kuznetsov, tàu tuần dương hạt nhân Kirov, tàu hộ vệ tên lửa Neustrashimy, tàu khu trục Sovremenny của Nga, tàu chiến lớp Talwar của Ấn Độ là những tàu đầu tiên ở châu Á được trang bị hệ thống này.

7. Hệ thống pháo/ tên lửa Palma

Những lá chắn cuối cùng của chiến hạm (II)

Hệ thống Palma có thể coi như một biến thể của hệ thống Kashtan, cũng được thiết kế để phòng vệ trước các cuộc tiến công đường không của đối phương. Nó có thể tiêu diệt tên lửa đối hạm, máy bay cũng như các mục tiêu cỡ nhỏ trên mặt nước và trên bờ.

Module tác chiến của hệ thống Palma có ký hiệu 3R-99E hoạt động hoàn toàn tự động, mỗi module tác chiến gồm 8 tên lửa Sosna-R lắp sẵn trong container kiêm ống phóng và 2 bệ pháo 6 nòng tự động cỡ 30mm AO-18KD (với 1.500 viên đạn) tương tự như hệ thống Kashtan, tuy nhiên pháo và tên lửa nhận lệnh từ hệ thống điều khiển hỏa lực quang điện đa kênh 3V-89 thay vì radar như hệ thống Kashtan. Hệ thống điều khiển hỏa lực quang điện 3V-89 bao gồm kênh truyền hình và ảnh nhiệt cùng máy đo xa và kênh điều khiển laser.

Mỗi module tác chiến 3R-99E có trọng lượng 6.900 kg và có thông số kỹ chiến thuật tương tự như module chiến đấu của hệ thống Kashtan. Hệ thống Palma được trang bị cho một số tàu hộ vệ tên lửa cỡ nhỏ Molniya của Hải quân Nga và biến thể Palash của nó đã được trang bị cho các tàu hộ vệ tên lửa Gepard 3.9 của Hải quân Việt Nam.

8. Hệ thống Millennium

Những lá chắn cuối cùng của chiến hạm (II)

Thông số cơ bản:

Trọng lượng: 3.750 kg

Loại đạn: 35x228 mm

Tốc độ bắn: 1.000 phát/phút

Sơ tốc đạn: 1.050-1.175 m/s

Tầm bắn hiệu quả: 3.500 m

Góc xoay ngang: 3600 -Tốc độ 1200/giây

Góc nâng hạ: -150/ 850 - Tốc độ 700/giây

Hệ thống Millennium của Rheinmetall (Đức) nằm giữa ranh giới của CIWS và pháo hải quân đơn thuần đi vào phục vụ từ năm 2003. Đây là hệ thống vũ khí tích hợp đa năng: phòng không/ chống tàu mặt nước với bộ não là hệ thống điều khiển hoả lực quang điện tử MSP 500 của STN Atlas, có thể thực hiện các chức năng điều khiển tác chiến phòng không chống tên lửa đối hạm, máy bay; chống tàu mặt nước, chi viện hoả lực và chống mục tiêu ven bờ.

Millennium được trang bị pháo ổ quay 1 nòng 35 mm Oerlikon KDG35/1000 có các chế độ bắn phát một, phát một tốc độ cao và bắn liên thanh 1.000 phát/phút. Pháo bắn được đạn có ngòi điện tử AHEAD và tất cả các loại đạn 35 mm tiêu chuẩn khác. Bệ pháo có thiết kế tàng hình chứa được 230 viên đạn cho phép bắn chặn trên 8 tên lửa mà không cần nạp lại. Do không sử dụng các đường kết nối dữ liệu nên có thể tiếp thêm đạn cho pháo bất kỳ lúc nào mà không cần đợi thùng đạn bắn hết. Trong trường hợp nguồn điện bị trục trặc, pháo vẫn có thể vận hành bằng nguồn ắc quy riêng.

Pháo Oerlikon KDG35/1000 được kết nối trực tiếp với đường trục truyền dữ liệu của hệ thống điều khiển tác chiến và tiếp nhận dữ liệu bám mục tiêu 3D từ bất kỳ nguồn nào. Máy tính là bộ phận hợp thành của pháo đảm nhiệm chức năng thanh lọc mục tiêu, tính toán góc bắn, hiệu chỉnh và cài đặt ngòi nổ điện tử của đạn AHEAD thông qua sóng radio. Khi nổ, đạn AHEAD tạo ra chùm mảnh nổ xoáy tròn hình phễu đan xen nhau bao lấy mục tiêu, với loại đạn này, hệ thống Millennium có khả năng tiêu diệt máy bay ở cự ly 3.500 m hoặc tên lửa đối hạm và tên lửa chống radar ở cự ly trên 1.200 m.

Tên lửa mục tiêu bị tiêu diệt bởi đạn AHEAD

Tên lửa mục tiêu bị tiêu diệt bởi đạn AHEAD

Hệ thống Millennium hiện được trang bị trên một số tàu hải quân của Đan Mạch, Venezuela và tàu cao tốc Sea Slice của hải quân Mỹ.

Theo Soha



Các tin khác
Thông tin mới
.
 




Flag Counter