Các chiến công
"Vạch nhiễu tìm thù" và bảo vệ an toàn ra-đa
05:56 | 22/08/2013
Trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972, Binh chủng Ra-đa thuộc Quân chủng Phòng không-Không quân có 4 trung đoàn và một tiểu đoàn độc lập, trang bị 109 ra-đa với các dải tần khác nhau. Trong đó, chiếm 42% số đài ra-đa ba dải tần; 47% số đài hai dải tần và 11% số đài một dải tần. Bên cạnh đó còn các đài ra-đa dẫn đường, điều khiển cho pháo phòng không 100mm, 57mm…
Trong cuộc chiến đấu chống máy bay ném bom chiến lược B-52, bộ đội ra-đa phải rất khó khăn để đối phó với nhiễu cường độ cao của địch. Các ra-đa của ta là mục tiêu để không quân Mỹ sử dụng tên lửa chống ra-đa, đặc biệt là tên lửa tiên tiến Shrike đánh phá, hòng “bịt mắt” hệ thống tên lửa phòng không. Bộ đội ra-đa ta chỉ có ra-đa P-12, P-35 và ra-đa đo cao PRV-11 để chiến đấu với “pháo đài bay” B-52. Trong điều kiện địch gây nhiễu mạnh, bộ đội ra-đa đã phải nghiên cứu, tìm các giải pháp kỹ thuật phù hợp để “vạch nhiễu, tìm thù”.

Ra-đa P-12 do Liên Xô (trước đây) chế tạo, là loại ra-đa tự hành, sóng mét, dùng để phát hiện, nhận biết và chỉ thị mục tiêu cho tên lửa, pháo phòng không, bổ trợ dẫn đường cho máy bay. Các bộ phận chính gồm an-ten, xe an-ten, xe đài, máy hỏi NRZ-12 và nguồn điện. Vùng phát hiện của ra-đa theo phương vị 360o, theo góc tà từ 1,5o đến 300, cự ly phát hiện mục tiêu có diện tích phản xạ hiệu dụng 1m2 ở độ cao 500m đạt 45km, và đạt 165km với mục tiêu ở độ cao hơn 10km. Ra-đa P-12 có 4 dải tần làm việc để chống nhiễu tích cực và chống nhiễu tiêu cực. Thời gian mở máy 6 phút, triển khai và thu hồi 90 phút, tốc độ quay an-ten từ 0,5 đến 6 vòng/phút.

Ra-đa P-35 cũng là ra-đa sóng mét, có tính năng sử dụng giống ra-đa P-12. Các thành phần chính gồm an-ten, moóc thu-phát, xe hiện sóng, máy tăng tần, máy hỏi NRZ-20, nguồn điện. Ra-đa phát hiện theo phương vị 360o, theo góc tà từ 0,5o đến 30o, cự ly phát hiện mục tiêu 50km ở độ cao 500m và 180km ở độ cao 10km. Ra-đa có 6 máy thu, 6 máy phát làm việc ở các chế độ khác nhau, chống nhiễu tích cực bằng cách chúc, ngẩng an-ten; chống nhiễu không đồng bộ bằng phương pháp lọc theo chu kỳ bằng đèn tích nhớ. Thời gian mở máy 5 phút, triển khai 6 giờ, thu hồi 5 giờ. Tốc độ quay an-ten từ 3 đến 6 vòng/phút.

Ra-đa đo cao sóng cm PRV-11, chủ yếu dùng để xác định độ cao của máy bay, khí cụ bay. Nhờ có năng lượng lớn, cánh sóng phục bên sườn nhỏ hơn hẳn so với ra-đa P-35 và có khả năng phân biệt cao hơn theo góc tà cho phép kíp chiến đấu của ra-đa đo cao PRV-11 phát hiện được máy bay B-52 ở cự ly xa từ 300 đến 340km. Trong điều kiện máy bay B-52 tập kích ồ ạt, các đài ra-đa đo cao PRV-11 được sử dụng rộng rãi để đánh dấu đường bay mục tiêu, đồng thời cung cấp đầy đủ tọa độ, vị trí mục tiêu. Khi chiến đấu, các trắc thủ ra-đa PRV-11 phối hợp chặt chẽ với đài ra-đa P-12, P-35 để "vạch nhiễu tìm thù", thực hiện tắt mở máy, điều chỉnh máy phát trên các tần số quy định, nên đã tránh được nhiều đợt tiến công của tên lửa Shrike của địch.

Dương Hà
Các tin khác
Thông tin mới
.
 




Flag Counter