Các chiến công
Chiến dịch Hồ Chí Minh – phần cuối
05:39 | 22/08/2013
Trên mũi thọc sâu - sư đoàn 320B, trung đoàn 27 tiến công địch ở Lái Thiêu (6 giờ 30) sau đó phát triển đánh chiếm khu vực cầu Vĩnh Bình, cầu Bình Phước (cầu Bình Phước do tiểu đoàn 5 đặc công đã chiếm lúc 7 giờ 30, chốt giữ), mở đường cho trung đoàn 48 cùng tiểu đoàn 66 thuộc lữ đoàn tăng thiết giáp 202 tiến vào nội đô.
Trung đoàn 48 sau khi đã diệt và làm tan rã toàn bộ lữ đoàn 3 kỵ binh ngụy tại cầu Bình Triệu đã vượt qua ngã tư Phú Nhuận, theo đường Võ Tánh tiến thẳng vào bộ tổng tham mưu ngụy. Trung đoàn tổ chức nhiều mũi đánh vào các cổng 1, 2, 3, hình thành bao vây, phối hợp với trung đoàn 28 sư đoàn 10 Quân đoàn 3 làm chủ bộ tổng tham mưu ngụy lúc 10 giờ 30. Do có 21 đồng chí biệt động thành dẫn đường, nên các lực lượng đánh bộ tổng tham mưu ngụy, tiến công khá nhanh và đánh rất trúng mục tiêu.
Trên cả hai hướng Tây và Tây Nam - hướng đoàn 232, sư đoàn 3 đã hoàn thành việc đánh chiếm khu vực Hậu Nghĩa và hai bên sông Vàm Cỏ, bảo đảm bến vượt cho sư đoàn 9 - lực lượng thọc sâu tiến thẳng vào Sài Gòn. Sau khi vượt sông, sư đoàn 9 tổ chức tiến quân theo hai trục. Trục thứ nhất, trung đoàn 1 sau khi diệt 1 tiểu đoàn dù ở ngã ba Bà Quẹo, đánh chiếm phân chi khu Vĩnh Lộc, trung đoàn tiến vào ngã tư Bảy Hiền, đập tan kháng cự của địch ở đây và phát triển theo đường Lê Văn Duyệt, đánh chiếm biệt khu Thủ đô, bắt sống tướng ngụy Lâm Văn Phát. Trục thứ hai trung đoàn 3 tiến công tiêu diệt sở chỉ huy liên đoàn 8 và tiểu đoàn biệt động quân 88 trên tuyến vành đai Đại Hàn; tiếp đó đánh tan tiểu đoàn bảo an 327 ở nam Vĩnh Lộc, tiến công chốt của tiểu đoàn 317 bảo an, tiêu diệt chi khu Bà Hom, đánh chiếm trường đua Phú Thọ và có một bộ phận sang hợp điểm ở dinh Độc Lập.
.

.
Trên mũi tiến công của trung đoàn 24, lúc 5 giờ 30 phút, trung đoàn cùng đặc công tiến công diệt đồn ngã ba Đình Hưng Đông, sau đó chiếm cầu Nhị Thiên Đường, cầu chữ Y. 10 giờ 30, đánh chiếm bộ tư lệnh cảnh sát quốc gia và đưa một bộ phận sang hợp điểm ở dinh Độc Lập. Trung đoàn 88, từ 5 giờ 30 đến 8 giờ, tiến công tiêu diệt đồn và phân chi khu Bà Phước, sau đó phát triển tiến công làm chủ đồn Ông Thìn, ngã ba An Phú, khu Nhà Bè. Trung đoàn 16, lúc 6 giờ 30, chiếm ga An Lộc, 11 giờ 30, chiếm cầu Bình Điền, sau đó có một bộ phận phát triển vào nội thành.
Sư đoàn 5, từ 5 giờ đến 12 giờ, tiến công tiêu diệt và bức hàng toàn bộ sư đoàn 22 và các liên đoàn biệt động quân, cùng lực lượng tại chỗ đánh chiếm thị xã Tân An, chi khu Thủ Thừa. Các đơn vị đặc công; 8 giờ, chiếm quận Tân Bình, 10 giờ, chiếm quận Bình Chánh; 12 giờ, chiếm được khu Rừng Sát.
Như vậy đến 11 giờ 30 ngày 30 tháng 4, ta đã đánh chiếm xong 5 mục tiêu chủ yếu và trong ngày cũng đã làm chủ toàn bộ các mục tiêu quân sự, chính trị, hành chính, kinh tế trong nội thành Sài Gòn. Sau hơn 3 ngày đêm chiến đấu thần tốc, dũng mãnh, chiến dịch Hồ Chí Minh đã toàn thắng.
Quân dân khu 8 và khu 9 đã nắm vững thời cơ chiến lược, chủ động phối hợp với chiến trường chính ở miền Đông Nam bộ, tiến công quân địch, nổi dậy làm chủ. Đến sáng ngày 1 tháng 5, đã tiêu diệt và làm tan rã hoàn toàn quân đoàn 4, quân khu 4 địch, giải phóng Đồng bằng sông Cửu Long.
Kết quả, trong chiến dịch Hồ Chí Minh ta đã tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng chủ lực, địa phương, cảnh sát thuộc quân khu 3 địch, lực lượng tổng trù bị còn lại và tàn quân của quân đoàn 1, quân đoàn 2. Đập tan hệ thống ngụy quyền từ Trung ương đến cơ sở, giải phóng hoàn toàn TP Sài Gòn - Gia Định và các tỉnh Tân An, Gò Công, Hậu Nghĩa, Tây Ninh, Bình Dương, Biên Hòa, Long Khánh, Bà Rịa, Vũng Tàu. Tổng số lực lượng địch bị tiêu diệt và tan rã khoảng 250.000 tên (trong đó khoảng 160.000 tên bị bắt và đầu hàng. 15.700 tên bị diệt). Tính đến ngày 10 tháng 10 năm 1975, có thêm hơn 700.000 tên ra trình diện (có 30 tướng, hơn 400 đại tá, hơn 200 trung tá, hơn 5.000 thiếu tá, gần 60.000 cấp úy). Số đơn vị bị diệt gồm: 7 sư đoàn bộ binh (có 3 sư đoàn mới khôi phục), 5 lữ đoàn dù, kỵ binh thiết giáp và pháo binh, 4 sư đoàn không quân, 90 đơn vị hải quân... Ta đã thu 500 khẩu pháo, hơn 400 xe tăng, xe thiết giáp, hơn 800 máy bay, 600 tàu chiến, 270.000 khẩu súng, 3.000 xe các loại, thu toàn bộ kho tàng và trang thiết bị ở các căn cứ của địch.
Chiến dịch Hồ Chí Minh - chiến dịch quyết chiến chiến lược cuối cùng toàn thắng đã đưa cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của ta đến thắng lợi cuối cùng. Từ đây, nhân dân ta đã giành được độc lập tự do, tiến tới thực hiện thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Về nghệ thuật chiến dịch, chiến dịch Hồ Chí Minh có nhiều phát triển mới. Trước hết Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã kịp thời nắm bắt đúng thời cơ chiến lược, hạ quyết tâm chiến dịch chính xác và kịp thời. Sau thắng lợi vang dội ở Tây Nguyên, ta đã chỉ đạo nhanh chóng tiêu diệt quân khu 1 và bộ phận còn lại của quân khu 2 địch, không cho chúng co cụm về Sài Gòn; nhanh chóng tập trung lực lượng trong một thời gian ngắn (khoảng 1 tháng) với lực lượng lớn chưa từng có trong lịch sử chiến tranh cách mạng nước ta (15 sư đoàn) và một khối lượng vật chất, trang bị kỹ thuật rất lớn tạo ưu thế về lực, thực hiện thắng lợi trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975; đồng thời đã tăng cường sự lãnh đạo tại chỗ của Bộ Chính trị đối với chiến dịch, tăng cường bộ máy chỉ đạo và chỉ huy cho chiến dịch, huy động sức người và vật chất ở mức độ cao nhất cho chiến trường, tạo điều kiện cho Bộ Tư lệnh chiến dịch đã nắm chắc ý đồ của trên, hạ quyết tâm chiến dịch chính xác và kịp thời, chuẩn bị chu đáo, thực hành chiến dịch trong một thời gian ngắn, đánh bại ý đồ kéo dài cuộc chiến tranh của địch.
Việc tạo thời cơ, nắm bắt và tranh thủ thời cơ phụ thuộc rất lớn vào thế và lực của ta trên chiến trường. Về thế, trước khi bước vào chiến dịch ta đã có một thế trận chiến tranh nhân dân phát triển đến trình độ cao. Đó là thế trận của hai lực lượng, ba thứ quân, thế trận đảm bảo cho thực hiện hai đòn tiến công chiến lược là tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng. Bằng một loạt các hoạt động quân sự của ta trước chiến dịch, ta đã tạo được thế bao vây chia cắt Sài Gòn, lập được hành lang chiến lược nối từ hậu phương trực tiếp đến chiến trường, hành lang đó ngày càng được mở rộng và hoàn chỉnh. Các lực lượng ba thứ quân của ta đã đứng chân được ở những vị trí xung yếu. Về lực, với thắng lợi của các đòn quân sự trước chiến dịch trên toàn Miền, ta đã làm suy giảm lực lượng địch bằng những trận tiêu diệt lớn (địch đã bị thiệt hại tới 35% quân số, 40% cơ sở hậu cần, 40% binh khí kỹ thuật). Ta đã thực hiện chia cắt chiến lược giữa Đồng bằng sông Cửu Long và Sài Gòn. Do có ý đồ chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược từ trước nên ta đã xây dựng được các binh đoàn chủ lực mạnh. Về so sánh lực lượng địch, ta lúc này, ta đã đạt tỷ lệ áp đảo 1,7 trên 1 với chủ lực và 3 trên 1 với số đơn vị tập trung. Về binh khí kỹ thuật ta đã tập trung được 516 khẩu pháo mặt đất, 550 tên lửa và pháo phòng không, 1 đại đội máy bay A37, 320 xe tăng, xe thiết giáp, 1.600 xe kỹ thuật chiến đấu, hơn 10.000 xe vận tải, 60.000 tấn vật chất (15.000 tấn đạn). Về lực lượng nổi dậy ta đã tăng cường 1.700 cán bộ cho vùng ven và nội thành, có hơn 1.200 đảng viên và 10.000 quần chúng nòng cốt, 40 lõm chính trị với 7.000 quần chúng làm chủ có mức độ, 400 tổ chức công khai với 25.000 người do ta nắm. Rõ ràng cả thế và lực ta đều áp đảo địch.
Từ nghiên cứu kỹ thực tế chiến trường Bộ tư lệnh chiến dịch đã đi đến kết luận rất đúng về hai đối tượng tác chiến chủ yếu của chiến dịch là các sư đoàn chủ lực của chúng bố trì ở vòng ngoài và cơ quan đầu não về quân sự chính trị ở nội đô. Hai đối tượng này có quan hệ mật thiết với nhau, đối tượng thứ nhất bị tiêu diệt thì đối tượng thứ hai sẽ mất chỗ dựa chủ yếu, mất ý chí đề kháng, tan rã hoặc đầu hàng. Ngược lại nếu đối tượng thứ hai bị tan rã hoặc đầu hàng sớm, thì đối tượng thứ nhất sẽ như rắn mất đầu và nhanh chóng bị tiêu diệt. Từ nhận định trên Bộ tư lệnh chiến dịch đã xác định cách đánh chiến dịch, chiến thuật trong chiến dịch rất linh hoạt và sáng tạo đó là kết hợp với thế trận đã được chuẩn bị trước, hình thành thế trận hợp vây lớn, chia cắt hiểm, kết hợp chặt chẽ và phát huy cao độ uy lực của các binh đoàn chủ lực, của lực lượng vũ trang tại chỗ và nổi dậy của quần chúng. Dùng từng bộ phận lực lượng thích hợp trên từng hướng, đủ sức bao vây chia cắt, chặn giữ quân địch lại, không cho chúng rút chạy về Sài Gòn. Tiêu diệt và làm tan rã tại chỗ các sư đoàn bộ binh phòng thủ vòng ngoài của địch; đồng thời sử dụng một lực lượng chủ lực cùng lực lượng tại chỗ đánh chiếm các địa bàn then chốt ở vùng ven, mở đường cho các binh đội được cơ giới hóa và trang bị mạnh, đánh địch trong hành tiến, thọc sâu theo các trục đường, nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu chủ yếu, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ tập đoàn phòng ngự lớn của địch tại trung tâm đầu não của chúng.
Chiến dịch Hồ Chí Minh cũng là một điển hình về sự hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng, cả binh chủng và quân chủng, sự kết hợp trên quy mô lớn ba mũi giáp công, tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng. Chiến dịch Hồ Chí Minh - chiến dịch tiến công quy mô lớn nhất của ta, thực sự là đỉnh cao của nghệ thuật chiến dịch tiến công hiệp đồng quân binh chủng, bước phát triển nhảy vọt lớn nhất về sức mạnh và nghệ thuật chiến đấu của toàn quân và toàn dân ta trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.
(Theo Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) của Nhà Xuất bản Quân đội Nhân dân)
Các tin khác
Mô hình thiết bị quân sự bằng gỗ mỹ nghệ
Thông tin mới
.
 




Flag Counter

Cửa hàng quà tặng TheGioiXinh.net