VN Defence :: Xem chủ đề - phiên hiệu các đơn vị QDND Việt Nam
 Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Nhóm làm việcNhóm làm việc   Thông tin cá nhânThông tin cá nhân   Tin nhắn riêngTin nhắn riêng   Đăng nhậpĐăng nhập 

phiên hiệu các đơn vị QDND Việt Nam
Chuyển đến trang 1, 2  Trang kế
 
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VN Defence -> Quân đội nhân dân Việt Nam
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
tkhanh
Thượng úy
Thượng úy


Ngày tham gia: 24/07/2007
Bài gửi: 506

Bài gửigửi: 02.02.2009    Tiêu đề: phiên hiệu các đơn vị QDND Việt Nam Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Cac bạn và mình cùng xây dựng topic này nào , các bạn có thể tìm hiểu về các đại đội , tiều đoàn , trung đoàn ở địa phương mình mà post lên nhé

TIỂU ĐOÀN PHÚ LỢI - BỘ ĐỘI ĐỊA PHƯƠNG TỈNH BÌNH DƯƠNG

Khi chiến lược ''chiến tranh đặc biệt''của đế quốc Mỹ đang trên đà bị phá sản, Đảng ta đã nhận đ?Nh Mỹ có khả năng sẽ chuyển từ chiến lược 'chiến tranh đặc biệt"sang chiến lược ''chiến tranh cục bộ, đưa quân viễn chinh Mỹ và chư hầu sang trực tiếp tham chiến tại miền Nam nước ta. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 9 (tháng 2-1963), đã dự đoán: Mỹ có khả năng đưa thêm quân vào đẩy mạnh cuộc chiến tranh Việt nam. Vì vậy, ta phải luôn luôn nâng cao cảnh giác và tích cực chuẩn bị sẵn sàng ứng phó nếu đế quốc Mỹ mạo hiểm mở rộng cuộc chiến tranh miền Nam thành chiến tranh cục bộ; tháng 1-1965, Hội nghị Trung ương Cục lần thứ ba nêu cao quyết tấm đánh thắng chiến lược ''chiến tranh đặc biệt" mức cao nhất và chuẩn bị đối phó với chiến lược 'chiến tranh cục bộ"của đế quốc Mỹ. Tại hội nghị này, Trung ương Cục nhận định: "Việc đế quốc Mỹ đưa lực lượng quân chiến đ?U vào miền Nam có thể từ 50.000 đến 200.000 tên là một chính sách phiêu lưu táo bạo của chúng miền Nam, nhưng hành động đó có nhiều nhược điểm và sẽ gặp nhiều mâu thuẫn, chứ quyết không phải là một thế mạnh của bọn xâm lược
Trung ương Cục kết luận: Hơn lúc nào hết, cần phải kiên quyết đánh Mỹ, kiên quyết tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ ngụy quân, nhất là quân chủ lực, đó là điều kiện quyết định làm cho chiến lược ''chiến tranh đặc biệt"của địch bị thất bại hoàn thành đồng thời tăng khó khăn và nguy cơ thất bại nếu Mỹ chuyển sang chiến lược ''chiến tranh cục bộ'?
Hội nghị Trung ương Cục lần thìa là một sự klện lớn đánh dầu bước chỉ đạo quan trọng của Đảng bộ miền Nam về xác định và nêu cao quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

I- Đảng bộ Thủ Dầu Một thành lập Tiểu đoàn lâm thời Phú Lợi
Quán triệt và chấp hành sự chỉ đạo của Bộ Chính trị về phát triển bộ đội chủ lực trên chiến trường, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một quyết định chuẩn bị điều kiện tiến tới thành lập tiểu đoàn chủ lực đầu tiên của tỉnh. Tháng 1 1-1964, Tỉnh ủy quyết định tập trung các Đại đội 304, 306, 308 và Đại đội 4 trợ chiến hình thành lâm thời tiểu đoàn chủ lực cơ động của tỉnh (chưa có tiểu đoàn bộ). Tiểu đoàn chủ lực cơ động của tỉnh ra đời còn là yêu cầu khách quan phải có đơn vị mạnh để đối phó với những hoạt động, tác chiến ngày càng lớn của địch. Với vị trí là một chiến trường trọng điểm trên một địa bàn chiến lược, với truyền thống bất khuất của cha ông, kế thừa truyền thống của Chi đội 1, Trung đoàn 301, Tiểu đoàn 303, trước tình hình thuận lợi ngụy quân, ngụy quyền trong tỉnh đang suy yếu, nhưng đồng thời cũng có những khó khăn khi quân viễn chinh Mỹ đang lăm le nhảy vào cứu nguy cho quân ngụy, trực tiếp xâm lược miền Nam, tuy chưa tuyên bố thành lập chính thức, nhưng tiểu đoàn đã mang trong mình nó sức mạnh chiến đấu của các Đại đội 304, 306, 308 và Đại đội trợ chiến, những đơn vị đã trưởng thành, được rèn luyện, thử thách trong khói lửa chiến tranh, đã lập được nhiều chiến công xuất sắc. Vừa được hình thành, Ban chỉ huy lâm thời lao ngay vào công tác giáo dục chính trị và tổ chức huấn luyện quân sự. Về chính trị, cán bộ, chiến sĩ được học bản chất, truyền thống của quân đội nhân dân Việt Nam. Ngoài ra, cán bộ, chiến sĩ còn được học tập về tình hình, nhiệm vụ cách mạng trong tỉnh, trong toàn Miền và cả nước ở thời điểm chiến lược ''chiến tranh đặc biệt'' của Mỹ đã thất bại và chiến lược ''chiến tranh cục bộ'' sắp bắt đầu. Một vấn đề rất cơ bản về chất lượng của đơn vị là hầu hết chiến sĩ trong tiểu đoàn đều đã qua chiến đấu, được tuyển chọn từ du kích xã và bộ đội huyện. Cán bộ đại đội, tiểu đoàn đã tham gia chiến đấu chống Pháp, có bản lĩnh chiến đấu vững vàng. Là người địa phương, trưởng thành trong phong trào đấu tranh một mất một còn với địch, nên cán bộ, chiến sĩ am hiểu địch, đặc biệt là thông thạo địa hình. Đây là chỗ mạnh rất cơ bản của đơn vị, đồng thời là đặc điểm mà các đơn vị chủ lực của khu, của Miền không thể có được. Về chiến thuật, qua học tập chiến lệ, cán bộ trao đổi rút kinh nghiệm các hình thức chiến thuật tập kích, phục kích, vận động phục kích, vận động tiến công kết hợp phòng ngự trong chống càn, đánh giao thông là những hình thức chiến thuật thích hợp với điều kiện, khả năng và cũng là sở trường của bộ đội tỉnh. Trong thực hành chiến thuật, công tác tổ chức chỉ huy, công tác hiệp đổng chiến đấu giữa các đại đội, các bộ phận được đặc biệt nhấn mạnh. Tiểu đoàn chủ lực cơ động của tỉnh được hình thành là niềm tự hào chung của quân dân toàn tỉnh, là con chim đầu đàn của lực lượng vũ trang địa phương, nên từ cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân đều góp sức cho đứa con yêu của mình mau lớn mạnh, trưởng thành. Đáp ứng lòng tin ấy, tiểu đoàn càng ra sức chuẩn bị mọi mặt để thực hiện bằng được ra quân đánh thắng trận đầu, xây dựng truyền thống: Đã đánh là tiêu diệt, ra quân là chiến thắng.

II- Tiểu đoàn Phú Lợi - Tiểu đoàn chủ lực cơ động đầu tiên của tỉnh Thủ Dầu Một chính thức được thành lập

Ngày 5-6-1965, Tiểu đoàn Phú Lợi chính thức được thành lập. Buổi lễ ra mắt chính thức của Tiểu đoàn Phú Lợi được tổ chức tại xóm Vườn Trầu, ấp Hố Nên, xã Long Nguyên, huyện Bến Cát. Lễ đài được dựng lên giữa trang trống. Các Đại đội 304, 306, 308, Đại đội 4, các trung đội trinh sát, thông tin, vận tải và đội phẫu thuộc Tiểu đoàn bộ, quân phục mới, đội ngũ chỉnh tề được tập hợp trước lễ đài Các loại hỏa khí trung, đại liên, cối, ĐKZ giá thành hàng ngang trước đội hình. Cán bộ, chiến sĩ, những người vừa lập công oanh liệt trong các trận Đồng Sổ, Đồng Chèo, Quý Hiệp... nghiêm trang chờ đợi giờ phút chính thức khai sinh đơn vị. Hàng ngàn đồng bào thuộc các ấp xã Long Nguyên và đại diện các xã Thanh An, Thanh Tuyền, Kiến An, Lai Hưng cũng đến chứng kiến buổi lễ, chia vui với tiểu đoàn. Đại diện cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận huyện, xã đều có mặt. Trong quang cảnh tình nghĩa quân dân thắm thiết, đồng chí Trần Ruốc Ân, Tỉnh đội trưởng Thủ Dầu Một bước lên lễ đài long trọng đọc quyết định thành lập Tiểu đoàn Phú Lợi của Bộ Chỉ huy quân khu miền Đông. Đồng chí Lưu Vĩnh Trường (tức Hai Thành) quyền chính trị viên tỉnh đội lên đọc diễn văn nói về ý nghĩa ra đời của Tiểu đoàn Phú Lợi, trách nhiệm của tiểu đoàn trước cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân trong tỉnh và động viên, cổ vũ tiểu đoàn tiến lên lập những chiến công to lớn hơn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Đảng và nhân dân giao phó. Tiểu đoàn đã hình thành từ tháng 11-1964, nhưng ngày 5-6-1965 mới thực sự là ngày chính thức khai sinh tiểu đoàn. 7 tháng qua là thời kỳ dự bị - thời kỳ tập dượt để có ngày lịch sử này. Thời kỳ dự bị đã tiêu diệt được đại đội, tiểu đoàn địch thì sau ngày khai sinh chính thức, các chiến sĩ Tiểu đoàn Phú Lợi với những kinh nghiệm chiến đấu đã có, tin tướng sẽ lập công xuất sắc hơn. Tiểu đoàn Phú Lợi chính thức ra đời trong một khung cảnh đầy bom đạn ác liệt của cuộc ''chiến tranh cục bộ'' mà Mỹ vừa triển khai. Mỹ muốn nhanh chóng tạo ra ưu thế về tương quan lực lượng trên chiến trường Thủ Dầu Một, dùng quân viễn chinh Mỹ và bom đạn tiêu diệt căn cứ kháng chiến và lực lượng vũ trang ta, dùng quân ngụy đẩy mạnh ''bình định'', giành dân, thiết lập phòng tuyến an ninh từ xa bảo vệ Sài Gòn. Cường độ chiến tranh tăng lên đột ngột. Trong bối cảnh đó, Thường vụ Tỉnh ủy và Ban Chỉ huy tỉnh đội, ngoài việc chỉ đạo phong trào kháng chiến trong toàn tỉnh đã tập trung chỉ đạo Tiểu đoàn Phú Lợi nhanh chóng ổn định tổ chức biên chế, kịp thời ứng phó với tình hình mới, bảo vệ thành quả cuộc kháng chiến. Quân số tiểu đoàn sau bổ sung, củng cố có 500 cán bộ, chiến sĩ, gồm 4 đại đội và Tiểu đoàn bộ. Đại đội 304 đổi phiên hiệu thành Đại đội 1, Đại đội 306 đổi thành Đại đội 2, Đại đội 308 thành Đại đội 3 và Đại đội 4 trợ chiến. Tiểu đoàn bộ có các trợ lý tham mưu, chính trị, hậu cần và các trung đội trực thuộc gồm 1 trung đội trinh sát, 1 trung đội thông tin, 1 trung đội vận tải và 1 đội phẫu. Ban chỉ huy tiểu đoàn gồm các đồng chí: Phạm Văn Thuẫn: Tiểu đoàn trưởng; Trần Văn Châu: Chính trị viên; Trương Văn đảng, Nguyễn Văn Sinh, Phạm Văn Dầu: Tiểu đoàn phó. Đảng bộ tiểu đoàn tổ chức Đảng 2 cấp, có 5 chi bộ, 150 đảng viên. Đảng ủy tiểu đoàn gồm 7 đồng chí, do đồng chí Trần Văn Châu làm Bí thư Đảng ủy. Với tổ chức mới, với sức mạnh của một tiểu đoàn hoàn chỉnh, cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn Phú Lợi càng ra sức học tập, rèn luyện, trau dồi bản lĩnh, chuẩn bị và tạo thời cơ cho những trận chiến đấu mới.

III- Tóm tắt một số trận đánh của Tiểu đoàn Phú Lợi

1. Trận phục kích của Tiểu đoàn Phú Lợi tiêu diệt Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn B Sư đoàn 5 ngụy ngày 8-7-1965 tại ấp Suối Dứa
Lúc quân Mỹ mới vào, chủ yếu chúng lo xây dựng, củng cố chỗ đứng chân. Quân Mỹ vào, quân ngụy có chỗ dựa, ráo riết mở các cuộc ''hành quân an ninh'', tiếp tục thực hiện ''binh định'', gom dân lập ''ấp chiến lược, Cùng với những hoạt động, tác chiến của bộ đội huyện và du kích xã trong chống phá các cuộc hành quân càn quét, đánh phá giao thông địch, Ban chỉ huy tỉnh đội theo dõi, bám sát quy luật hoạt động của địch, tạo cơ hội cho Tiểu đoàn Phú Lợi ra quân đánh thắng trận đầu. Ở khu vực Dầu Tiếng, trên đường 14, đoạn Dầu Tiếng đi Thanh An, có tua Suối Dứa do 2 tiểu đội ngụy đóng giữ. Cứ mỗi lần du kích bao vây bắn tỉa, địch trong bót thường kêu cứu Sở chỉ huy Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 8 Sư đoàn 5 ngụy đóng ở thị trấn Dầu Tiếng đến giải tỏa. Nắm được quy luật đó, phương án tác chiến của trận phục kích tiêu diệt Tiểu đoàn cộng hòa ở Suối Dứa được hình thành. Đảng ủy hạ quyết tâm trận này phải tiêu diệt gọn tiểu đoàn địch. Ngoài ý nghĩa về quân sự tiêu diệt lớn sinh lực địch trong khi quân Mỹ mới vào làm chỗ dựa cho quân ngụy còn có ý nghĩa đây là trận đầu ra quân của tiểu đoàn sau khi thành lập chính thức. Sau khi bí mật hành quân, chiếm lĩnh trận địa theo phương án tác chiến, 6 giờ sáng ngày8-7-1965, theo kế hoạch đã hiệp đồng, du kích xã Thanh An nã từng loạt đạn vào lô cốt địch ở tua Suối Dứa. Tiếp sau đó, lại có những loạt đạn tiếp theo vào chốt của địch. Lúc này, vô tuyến điện của Tiểu đoàn Phú Lợi bắt được sóng kêu cứu của địch về Dầu tiếng. Địch đã sa vào kế ''điệu hổ ly sơn'' của tiểu đoàn. Lệnh sẵn sàng chiến đấu được truyền đến các bộ phận. Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 8 thuộc Sư đoàn 5 ngụy hùng hổ ra quân với những loạt pháo 105 ly bắn dọn đường. Đến Cầu Cát, địch chia làm 3 cánh đi theo đường và hai bên theo hình bậc thang. Khi tiểu đoàn địch lọt hẳn vào trận địa phục kích của ta, bộ phận đi đầu của địch chỉ còn cách trung đội chặn đầu của Đại đội 3 chừng vài chục mét, hai khẩu trung liên và đại liên lập tức nhả đạn. Các đại đội cả phía chính diện và đối diện bật dậy ném thủ pháo xung phong. Hai khẩu ĐKZ bắn tung hai tháp canh ở Cầu Cát, cùng lúc những quả đạn cối lao xuống trận địa pháo 105 ở Dầu Tiếng làm cho chúng không bắn được phát nào. Với 400 quả thủ pháo nổ liên hồi với những đường đạn bắn găm chính xác, tiểu đoàn địch lớp chết, lớp đầu hàng. Một số ít tên lợi dụng con suối nhỏ chạy tháo thân bơi qua sông Sài Gòn bị chết đuối, chỉ vài tên sống sót. Trận đánh diễn ra đúng 21 phút, tiểu đoàn địch hoàn toàn bị tiêu diệt, 49 tên bị bắt sống, ta thu nhiều vũ khí đạn dược. Trận Suối Dứa là trận đầu tiên tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn địch, là trận thu nhiều vũ khí, bắt sống nhiều tù binh, là trận đánh nhanh gọn, đạt hiệu suất chiến đấu cao. Trận đánh được cấp trên tặng thưởng cho tiểu đoàn Huân chương Quân công hạng ba.
2. Trận phản đột kích của Tiểu đoàn Phú Lợi ngày25-8-1966 tại Bông Trang - Lò Gạch
Trong lúc dừng chân ở căn cứ Bông Trang – Lò Gạch để nghỉ ngơi, củng cố sau những trận đánh liên tục, tiểu đoàn bị một tên phản bội ở địa phương ra chiêu hồi, chỉ điểm cho địch nơi đơn vị đang trú quân. Được tin đó, địch đã khẩn trương dùng lực lượng chủ yếu nhằm tiêu diệt Tiểu đoàn Phú Lợi là toàn bộ Lừ đoàn 1 Mỹ với hơn 100 xe tăng, thiết giáp và 20 phi vụ máy bay ném bom, trực thăng chở đổ quân cùng sự yểm trợ tối đa của 3 cụm pháo binh ở Phú Lợi, Lai Khê, Phước Vĩnh. Quân lực Quân đoàn 3 sử dụng Sư đoàn 18 trấn giữ vòng ngoài. Diễn biến trận đánh thực hiện đúng điều lệnh chiến đấu quân đội Mỹ theo chiến thuật đột phá kết hợp bao vây tiến công. Trận đánh do tư lệnh Lữ đoàn 1 Mỹ trực tiếp chỉ huy. Trong lúc Mỹ - ngụy khẩn trương triển khai kế hoạch hành quân thì Tiểu đoàn Phú Lợi ở căn cứ Bông Trang - Lò Gạch không hay biết chuyện gì, vẫn triển khai sinh hoạt học tập bình thường như mọi ngày. Nhưng có một điều tiểu đoàn không bao giờ xao lãng là bất kỳ trú quân nơi đâu đều chuẩn bị công sự, hầm hào chiến đấu chắc chắn, có phương án tác chiến tại chỗ chu đáo với nhiều giả định tình huống có thể xảy ra. Bắt đầu từ 5 giờ sáng ngày 25-8-1966, địch mở rộng tập kích đầu tiên vào nơi trú quân của tiểu đoàn Phú Lợi. Và suốt cả ngày 25-8, địch mở nhiều đợt tấn công với sự yểm trợ của pháo binh, máy bay, xe tăng, thiết giáp làm cho trận địa luôn rung chuyển, mịt mù khói lửa. Nhưng mỗi đợt tiến công đều bị Tiểu đoàn Phú Lợi đánh bật trở lại. Các chiến sĩ cơ động theo hầm hào, nhằm vào từng toán địch nã đạn, lúc chỗ này, lúc chỗ khác. Các chiến sĩ xạ thủ B.40 cơ động diệt xe tăng như hình với bóng. Chiếc xe tăng nào liều mạng tiến lên đều dính đạn B.40 và ĐKZ. Sau đợt tiến công cuối cùng vào 17 giờ, không gặt hái dược gì lại càng thua đậm, chúng rút quân cụm lại phía trước để củng cố, cho xe tăng rải ra án ngữ xung quanh và dùng trực thăng đổ quân phía sau nhằm vây chặt Tiểu đoàn Phú Lợi để ngày mai tiến công tiếp. Chiến trường tạm yên tiếng súng, Ban chỉ huy tiểu đoàn lệnh cho các đơn vị kiểm tra trận địa, giải quyết thương binh, tử sĩ rút quân ra khỏi trận địa một cách thần kỳ, làm cho địch từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Phát hiện nơi trú quân của Tiểu đoàn Phú Lợi, quân Mỹ đã sử dụng một lực lượng rất lớn và thiện chiến, nhằm tiêu diệt tiểu đoàn này. Chúng đã tiến công trong điều kiện hoàn toàn chủ động. Tiểu đoàn Phú Lợi chiến đấu trong điều kiện bị động, bất lợi, nhưng với những cán bộ, chiến sĩ đã quen chuyển bị động thành chủ động trong mọi tình huống đã lập nên chiến công xuất sắc. Kết quả trận đánh, Tiểu đoàn Phú Lợi đã tiêu diệt và tiêu hao nặng 3 tiểu đoàn Mỹ khoảng 700 tên, bắn cháy, bắn hỏng 16 xe tăng, xe bọc thép, bắn rơi 1 máy bay lên thẳng cần cẩu, thu hơn 20 súng các loại và nhiều đồ dùng quân sự. Ta hy sinh 5 đồng chí và một số ít bị thương. Bông Trang - Lò Gạch là trận phản đột kích oanh liệt nhất trong lịch sừ chiến đấu của tiểu đoàn, là trận diệt nhiều quân Mỹ nhất, diệt nhiều xe tăng, thiết giáp của địch, xứng đáng với tâm Huân chương Quân công hạng ba của Bộ Chỉ huy Miền trao tặng.
3. Những trận phục kích diệt xe tăng địch
Sau một thời gian nghiên cứu, điều tra quy luật hoạt động của xe tăng địch ở căn cứ Nhà Đỏ, ngày 20-11-1969, tiểu đoàn tổ chức một bộ phận phục kích đánh xe tăng địch cách căn cứ Nhà Đỏ 1km, nơi địch không thể ngờ là ta dám bố trí táo bạo như vậy. Trận đánh đã diễn ra đúng như dự kiến. Sáng ngày 20-1 1-1969, một chi đoàn xe tăng địch gồm 10 chiếc từ căn cứ kéo ra tiến vào trận địa. Do ở ngay trước cổng căn cứ, nên chúng nghênh ngang và không đe phòng. Đoàn xe đã loạt nhăn vào trận địa như những tấm bia di động, bộ phận chặn đầu phóng đạn và toàn trận địa lập tức bắn theo. Những đường đạn nhoang nhoáng cùng với những bưng lửa màu da cam bao trùm lên đoàn xe tăng địch. 7 chiếc trúng đạn nổ tung. Trận đánh chỉ diễn ra có 2 phút. Các chiến sĩ lập tức rút lui. Pháo địch dập tới, nhưng các chiến sĩ đã ra khỏi trận địa. Trận đánh phục kích xe tăng địch ở Nhà Đỏ đã được tiểu đoàn rút kinh nghiệm trong toàn đơn vị. Để phù hợp với cách đánh gọn nhẹ, cơ động nhanh, đánh nhanh, rút nhanh, bảo đảm yếu tố bí mật, bất ngờ, tiểu đoàn đã tổ chức 18 tổ đánh tăng. Mỗi tổ biên chế từ 3 - 5 người, trang bị hai khẩu B.40 hoặc B.41. Các tổ tung ra phục khắp các nẻo rừng, các con đường xe tăng địch hay đi với tinh thần hoạt động phân tán, độc lập tác chiến. Với cách đánh này làm cho quân Mỹ rất sợ. Xe tăng Mỹ bị diệt ngày càng nhiều nhưng chúng vẫn không tìm được cách nào để đối phó.
***
Tiểu đoàn Phú Lợi - tiểu đoàn chủ tập trung cơ động đầu tiên của tỉnh Thủ Dầu Một ra đời từ những ngày đầu Mỹ đổ quân trên chiến trường của tỉnh. Vừa được khai sinh, tiểu đoàn đã lập chiến công lớn ở bến Đồng Sổ, Ouý Hiệp, Suối Dứa... tiếp theo là những ngày đánh Mỹ, diệt ngụy liên tục, xóa phiên hiệu nhiều tiểu đoàn, đại đội địch. Suốt 21 năm xây dựng và chiến đấu, tiểu đoàn đã thể hiện lòng trung thành với dân, với nước, bền bỉ chịu đựng mọi hy sinh gian khổ, đoàn kết nội bộ, đoàn kết với nhân dân, góp phần cùng quân dân trong tỉnh đánh bại mọi chiến lược chiến tranh của Mỹ - ngụy; bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nghĩa vụ quốc tế giúp bạn. Quá trình chiến đấu giải phóng và bảo vệ quê hương, cán bộ, chiến sĩ đã lập nhiều chiến công vang dội, làm kẻ thù khiếp sợ. Với vị trí là đơn vị vũ trang tập trung cơ động của tỉnh, Tiểu đoàn Phú Lợi xứng đáng là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân sản xuất, xứng đáng là đơn vị quân đội nhân dân Việt Nam.

Hiện nay tiểu đoàn Phú Lợi đang là lực lượng thuộc Bộ CHQS Tỉnh Bình Dương

link : http://www.sugia.vn/index.php?mod=news&cpid=3&nid=358&view=detail[/u]
_________________
Anh đi giết giặc biên thùy
Dẹp yên bờ cõi ta thì nên duyên


Được sửa chữa bởi tkhanh ngày 27.02.2009, sửa lần 1
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn Website của thành viên này
tkhanh
Thượng úy
Thượng úy


Ngày tham gia: 24/07/2007
Bài gửi: 506

Bài gửigửi: 02.02.2009    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

TIỂU ĐOÀN BÃI SẬY 1 - HƯNG YÊN [b][u]

Cách đây 42 năm, trong khí thế sục sôi: "Tất cả cho miền Nam tiền tuyến lớn, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược", ngày 14.4.1965 tại đình thôn An Vĩ (Khoái Châu) tiểu đoàn Bãi Sậy I đã được thành lập để chi viện cho tỉnh kết nghĩa Tân An, nay là tỉnh Long An. Cán bộ của tiểu đoàn hầu hết là bộ đội chống Pháp và nghĩa vụ năm 1959-1960, đã phục viên hoặc chuyển ngành về các cơ quan, các địa phương trong tỉnh, nay tái ngũ như đồng chí Nguyễn Văn Sinh, bí thư huyện ủy Văn Lâm, Đỗ Đình Tiếp, Nguyễn Minh Hải, ty thương nghiệp, ty nông nghiệp tỉnh... Chiến sĩ của tiểu đoàn ngày ấy là các đoàn viên thanh niên, học sinh, sinh viên đang còn theo học, hoặc vừa rời ghế nhà trường, đều ở độ tuổi mười tám đôi mươi, trong đó có Vương Đình Cung - con trai duy nhất của đồng chí Lê Quý Quỳnh, Bí thư Tỉnh ủy; Trần Căn, con trai đồng chí Trần Quang Tạo tỉnh đội trưởng, đang học đại học cũng tình nguyện lên đường chiến đấu.

Sau khi thành lập, tiểu đoàn đứng chân huấn luyện tại Thanh Oai (Hà Đông) và được bổ sung thêm một số cán bộ chiến sĩ là con em của các huyện: Chương Mỹ, Mỹ Đức - Hà Đông để đủ biên chế một tiểu đoàn súng cao xạ 12,7 ly gồm 500 cán bộ chiến sĩ. Vừa huấn luyện, vừa làm nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ mục tiêu trên quốc lộ số 1 ở Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định. Ngày 13.8.1965, tại trận địa phục kích Ngô Đồng, thuộc huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, đơn vị đã lập công xuất sắc, bắn rơi một máy bay phản lực F4D của Mỹ ngay từ loạt đạn đầu, phối hợp cùng đơn vị bạn bẻ gãy đợt tập kích của địch đánh vào trận địa tên lửa ta.

Tháng 10.1965, tại doanh trại E52 thuộc huyện Thường Tín (Hà Đông) tiểu đoàn làm lễ mừng công đón nhận Huân chương Chiến công về thành tích bắn rơi máy bay Mỹ, đồng thời làm lễ xuất quân lên đường vào Nam đánh Mỹ. Các đồng chí Lê Quý Quỳnh, Bí thư Tỉnh ủy; Mai Văn Hách, chủ tịch UBND tỉnh; Trần Quang Tạo, Tỉnh đội trưởng cùng nhiều cán bộ ban ngành đoàn thể tỉnh Hưng Yên đến dự động viên và tặng đơn vị lá cờ: "Quyết vượt Trường Sơn đánh thắng giặc Mỹ xâm lược". Cờ này được làm thành 2 lá trên đó có đầy đủ chữ ký bằng máu của cán bộ chiến sĩ tiểu đoàn, một để tại Bảo tàng Hưng Yên, một mang theo đơn vị, là kết tinh niềm tin, sự gửi gắm của Đảng bộ và nhân dân Hưng Yên cùng với lòng quyết tâm thắng Mỹ của cán bộ chiến sĩ tiểu đoàn.

15h30' ngày 7.10.1965, tiểu đoàn được lệnh lên đường vào Nam chiến đấu. Bốn tháng hành quân ròng rã, trèo đèo lội suối, băng rừng vượt núi, đánh địch mà đi, mở đường mà tiến, chỉ với đôi vai, đôi chân, cán bộ chiến sĩ tiểu đoàn và 18 cỗ súng cao xạ 12,7 ly, cùng các trang thiết bị khác đã đến vị trí tập kết an toàn và được lệnh trực tiếp chiến đấu tại chiến trường B3 Tây Nguyên. Tại đây đơn vị đã tham gia nhiều chiến dịch, nhiều trận đánh ở Chư Pông, Chư Pa, đường 14, sông Sa Thầy. Bất kỳ ở đâu, dù gian khổ hy sinh ác liệt đến mấy, cán bộ chiến sĩ tiểu đoàn đều chiến đấu ngoan cường dũng cảm, nhanh nhạy, cơ động, phối hợp cùng các đơn vị bạn đập tan chiến dịch: "Trực trăng vận" của Mỹ ngụy, tạo điều kiện cho bộ binh tiêu diệt sinh lực địch.

Do yêu cầu nhiệm vụ, cuối năm 1967 tiểu đoàn được chuyển sang làm công tác vận tải chiến đấu. Do đặc thù của chiến trường Tây Nguyên, đây là nhiệm vụ đòi hỏi một sức chịu đựng kiên trì, bền bỉ, dẻo dai mà không phải ai cũng dễ dàng vượt qua. Nhưng với truyền thống "Chân đồng vai sắt, mắt thần tiên" của bộ đội pháo binh, cán bộ chiến sĩ tiểu đoàn đã vượt qua mọi khó khăn gian khổ, thử thách, bám sát các đơn vị bộ binh, tải gạo, tải đạn kịp thời ra trận địa, đưa thương binh liệt sĩ từ trận địa về dưới làn đạn pháo và bom B52 rải thảm, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong đợt tổng công kích xuân Mậu Thân 1968, chiến dịch xuân hè, Đắc Tô, Tân Cảnh, Plây Cần, Bắc Kon Tum 1969-1972; tổ chức đánh địch đổ bộ, đánh biệt kích, bảo vệ an toàn bến bãi, kho tàng của mặt trận. Tiêu biểu như đại đội 3 do đại đội trưởng Lê Đình Thực chỉ huy, đã nổi danh một thời ở khu vực binh trạm Bắc. Nhiều cán bộ chiến sĩ đã lập công xuất sắc, như đồng chí Đỗ Hữu Vụ quê ở Khoái Châu trong chiến dịch Ngân Sơn, đơn vị bị B52 đánh trúng đội hình, ban chỉ huy cùng nhiều cán bộ chiến sĩ đã hy sinh. Giữa ngút trời bom lửa, địch lại nống ra rất gần, đồng chí đã bình tĩnh động viên anh em kịp thời cứu chữa thương binh, mai táng liệt sĩ chu đáo và tổ chức đưa được toàn bộ số anh em thương binh đơn vị mình và đơn vị bạn về nơi an toàn, được tặng thưởng Huân chương Chiến công. Sau này đồng chí Vụ đã trở thành chính trị viên tiểu đoàn. Đồng chí Đào Văn Nam quê Thủ Sỹ (Tiên Lữ) trong giờ phút gay go nhất của trận đánh đã bình tĩnh leo lên xe tăng của địch, chụp chiếc mũ sắt lên đầu, chờ cho bọn địch lầm tưởng ào ào bám lên, mới quay nòng khẩu 12 ly 7, nghiến răng bắn tan tác đội hình địch mở đường cho quân ta tiến vào Buôn Mê Thuột xuân Mậu Thân. Đồng chí Vương Đình Cung ở ở Mỹ Hào, trong trận chiến đấu chống càn tháng 5.1970 ở vùng ngã ba biên giới đã chỉ huy một tiểu đội đối đầu với lực lượng địch đông gấp bội, kiên cường chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, chấp nhận hy sinh chứ quyết không để rơi vào tay địch. Quá trình rèn luyện phấn đấu và sự hy sinh anh dũng của Vương Đình Cung là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ noi theo học tập.

Cùng với Vương Đình Cung còn có biết bao cán bộ chiến sĩ của tiểu đoàn đã ngã xuống, mãi mãi để lại tuổi 20 trên mảnh đất Tây Nguyên kiên cường, bất khuất. Máu của các anh tô thắm thêm màu cờ Tổ quốc, góp phần làm nên chiến thắng ngày 30.4.1975 quét sạch quân xâm lược giải phóng miền Nam.

Sinh ra và trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, mang trong mình dòng máu Bãi Sậy anh hùng, được sự cưu mang đùm bọc của nhân dân, tiểu đoàn Bãi Sậy I đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Đảng và nhân dân giao phó, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc.

Hơn 30 năm đã trôi qua, cuộc chiến đã đi vào quá khứ, lịch sử đã sang trang, đất nước đang trên con đường đổi mới, giờ đây hầu hết cán bộ chiến sĩ của tiểu đoàn đã trở về với đời thường, làm những công việc bình thường, như anh Nguyễn Cửu Việt, giáo sư chủ nhiệm khoa luật Trường đại học Hà Nội; anh Bật, giáo sư chủ nhiệm khoa triết Trường đại học kinh tế quốc dân. Một số khác đảm nhiệm công tác Đảng, chính quyền, đoàn thể ở các địa phương, người cấy lúa, trồng dâu... song dù ở đâu, cương vị nào các anh vẫn nêu cao bản chất truyền thống bộ đội Cụ Hồ, truyền thống của tiểu đoàn Bãi Sậy, tiếp tục đóng góp vào sự nghiệp xây dựng đổi mới quê hương đất nước.

LINK : http://www.baohungyen.vn/content/viewer.asp?a=5289&z=64
_________________
Anh đi giết giặc biên thùy
Dẹp yên bờ cõi ta thì nên duyên
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn Website của thành viên này
tkhanh
Thượng úy
Thượng úy


Ngày tham gia: 24/07/2007
Bài gửi: 506

Bài gửigửi: 06.02.2009    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

TRUNG ĐOÀN 99 - BẾN TRE

Trong quá trình chiến đấu và trưởng thành, LLVT Bến Tre nói chung và Trung đoàn 99 nói riêng luôn được Tỉnh ủy lãnh đạo chặt chẽ và nhân dân chăm sóc chu đáo. Các yêu cầu về giáo dục, đào tạo cán bộ hoặc bảo đảm vật chất nuôi quân, chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ đều được đáp ứng kịp thời.

Ngoài việc tác chiến và phát triển lực lượng, Trung đoàn 99 còn là “đội quân công tác” góp phần xứng đáng vào việc thực hiện chính sách đại đoàn kết, chính sách tôn giáo, công tác dân vận và địch vận. Trung đoàn có nền nếp giúp dân sản xuất xây dựng vùng giải phóng, thường xuyên tuyên truyền võ trang ở vùng tạm chiếm giúp dân hiểu rõ chính sách cách mạng. Các ban công tác của Trung đoàn cùng với Trinh sát, Quân báo, Công an xung phong và cán bộ Mặt trận thường xuyên hoạt động ở vùng địch kiểm soát, vừa trừ diệt ác ôn, vừa xuất thần đột nhập vào nhà ở, nơi làm việc của các nhân viên công chức ngụy quyền để cảnh cáo răn đe kẻ có hành vi sai trái. Chuyển lời khen ngợi hoặc trao thư, truyền đơn giáo dục, biểu dương những người tốt, biến họ thành quần chúng cảm tình, tự nguyện làm cơ sở cho kháng chiến. Những biệt danh Ngọ Ma, Tám Mô Bin, Công… trong các đội công tác hoạt động theo phương thức đặc công biệt động luôn là nỗi ám ảnh ngày đêm đối với bọn ác ôn có nợ máu với dân. Trung đoàn 99 dưới sự chỉ huy trực tiếp của ông Đồng Văn Cống đã thành công trong việc đưa đón, tổ chức gặp gỡ giữa kỹ sư Nguyễn Ngọc Nhựt - ủy viên UBKCHC Nam Bộ với cha ruột là Đức giáo tông Nguyễn Ngọc Tương. Qua đó, hệ phái Cao Đài Ban Chỉnh chuyển hướng tích cực theo cách mạng, có nhiều đóng góp xuất sắc cho kháng chiến. Cao Đài Ban Chỉnh đã được Bác Hồ và Chính phủ tặng thưởng nhiều huân chương cao quý.

Quá trình công tác quần chúng của Trung đoàn đã góp phần làm sáng tỏ chính nghĩa của kháng chiến đối với nhân dân vùng địch kiểm soát, đặc biệt là các vùng tôn giáo tập trung, thiết lập mối quan hệ và ảnh hưởng tốt với đồng bào. Tiếp theo là sự kiện giữ, đối thoại vạch trần bản chất của tổ chức UMDC, đối xử tử tế và đưa Giám mục Ngô Đình Thục về Vĩnh Long an toàn. Hai lần đánh chiếm quận lỵ Chợ Lách, giáo dục cảm hóa phóng thích quận trưởng, thả hết tù binh có đạo Công giáo, Hòa Hảo. Hai lần đột nhập đối thoại cảm hóa Tỉnh trưởng Huệ và Tỉnh trưởng Cao. Những hoạt động táo bạo và đúng chính sách đó đã làm cho đại bộ phận nhân dân có đạo và đa số nhân viên công chức ngụy quyền thấy được âm mưu của giặc Pháp và chính nghĩa của kháng chiến. Tuy trong tỉnh có nhiều đạo giáo và có hai trụ sở Trung ương đạo giáo nhưng đã tránh được cảnh xô xát giữa đạo – đời trong suốt quá trình kháng chiến. Ngược lại, nhiều cơ sở đạo có thiện cảm, góp sức giúp đỡ cách mạng. Thực tiễn sinh động đó đã khẳng định LLVT Bến Tre nói chung, Chi đội 19, Trung đoàn 99 nói riêng chẳng những đánh giặc giỏi, xây dựng và phát triển lực lượng nhanh, mà còn thực hiện tốt công tác dân vận, địch vận và tôn giáo vận, xứng đáng là đội quân chiến đấu giỏi và là đội quân công tác xuất sắc, được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng danh hiệu “TRUNG ĐOÀN GƯƠNG MẪU”, đồng thời được biểu dương trong toàn thể Quân đội Quốc gia Việt Nam vào năm 1948.

Cuối năm 1948 đầu năm 1949, cả nước thực hiện phương châm chiến lược “Tích cực cầm cự, chuẩn bị tổng phản công”, cấp Khu tổ chức 2 Trung đoàn chủ lực. Những đơn vị cơ động của Trung đoàn 99 và một số cán bộ có kinh nghiệm chiến đấu tập trung được điều sang tham gia chiến dịch Vĩnh – Trà (Vĩnh Long – Trà Vinh) với các trận then chốt như Nômen, Thầy Phó…. Các đại đội 885, 889, 891 được bổ sung quân số và mang phiên hiệu mới là 943, 944, 945. Đồng thời trước khi giải thể Trung đoàn 99, BCH Trung đoàn kịp thời thành lập Tiểu đoàn 310 chủ lực cho Khu, lập 2 đại đội địa phương, 1 trung đội trợ chiến để lại cho Bến Tre và 6 đơn vị biệt động cho các huyện nhằm đáp ứng tình hình nhiệm vụ mới trên chiến trường đầy biến động khi Trung đoàn 99 giải thể và rút khỏi Bến Tre.

Để ngăn chặn mưu toan tiếp tục chiếm đóng cù lao Minh của địch, cuối năm 1949 đầu năm 1950, chiến dịch Bến Tre được mở ra bao gồm vùng Chợ Lách và phía Tây Mỏ Cày, hướng phối hợp là vùng trên của huyện Sóc Sãi cùng các hoạt động khác trong toàn tỉnh. Đồng Văn Cống được Khu bộ trưởng chỉ định tham gia vào Bộ chỉ huy chiến dịch cùng với Nguyễn Đăng (Khu bộ phó Khu Cool, Võ Văn Thời và Bùi Sĩ Hùng. Các đơn vị tham gia chiến dịch gồm các tiểu đoàn 307, 308, 310 chủ lực của Khu và một số lực lượng ở địa phương.

Kết thúc chiến dịch, ta diệt 4 đồn tua, giải phóng xã Tân Bình và tiến vào võ trang tuyên truyền ở khu Công giáo Cái Mơn, Cái Nhum, chặn đánh hai mũi tiến quân của Pháp và ngụy vào cứu viện. Hướng phối hợp giải phóng một số ấp ở Sóc Sãi. Chiến dịch chưa tiêu diệt lớn quân cứu viện vì 2 tiểu đoàn 501, 502 của địch vẫn án binh bất động ở thị xã, nhưng chiến dịch đã hỗ trợ cho cơ sở và quần chúng tại chỗ tiến công địch, bức rút, bức hàng một số đồn bót. Đặc biệt khi quân ta vào khu Công giáo Cái Mơn có gần 1.000 tín đồ, có cả linh mục ra tiếp xúc tặng quà cho bộ đội. Họ tỏ lòng tri ân việc ta đối xử tử tế Giám mục Ngô Đình Thục, phóng thích quận trưởng Chợ Lách và nhiều ngụy quân, ngụy quyền là tín đồ Công giáo bị ta bắt trước đây. Lần gặp gỡ này, cán bộ chiến sĩ Trung đoàn giành nhiều thời gian thăm hỏi tín đồ, phổ biến chính sách của cách mạng, chính nghĩa của kháng chiến. Tập thể kèn đồng của họ đạo Cái Mơn được linh mục đồng ý đã tự nguyện đi theo kháng chiến. Kết thúc chiến dịch, lực lượng ta dừng chân tổng kết ở Tân Trung, Minh Đức, Hương Mỹ. Léon LeRoy điều một tiểu đoàn sang Tân Trung càn quét thăm dò, bị Tiểu đoàn 307 bao vây tiêu diệt gần hết.

Sau chiến dịch Bến Tre, Trung đoàn 99 chính thức giải thể theo chủ trương của cấp trên. Ban chỉ huy và đại bộ phận lực lượng của Trung đoàn rời khỏi Bến Tre tham gia xây dựng bộ đội chủ lực Khu 8. Trung đoàn 99 hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên chiến trường Bến Tre. Đồng Văn Cống và cán bộ chiến sĩ Trung đoàn rời khỏi Bến Tre đi nhận nhiệm vụ mới theo mệnh lệnh của cấp trên vì lợi ích toàn cục.

Đồng Văn Cống và những cộng sự dưới quyền của ông lên đường chiến đấu ở chiến trường xa. Quân địch ở Bến Tre tăng cường xua quân chiếm đóng toàn tỉnh bằng hệ thống đồn bót dày đặc. Lực lượng cách mạng còn lại của Bến Tre lùi dần về căn cứ có rừng, một số cán bộ phải điều lắng để bảo tồn lực lượng và tạm thời chấp nhận thoái trào. Năm 1951, được trên đồng ý, Đồng Văn Đống đang chỉ huy Trung đoàn chủ lực Khu 8, bàn giao nhiệm vụ trở về Bến Tre đảm nhiệm chức Tỉnh đội trưởng. Ông kiên trì tổ chức móc nối xây dựng cơ sở, tập hợp phát triển LLVT địa phương để rồi những năm sau trong đợt hoạt động phối hợp với chiến dịch Điện Biên Phủ, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Bến Tre, lực lượng do Đồng Văn Cống khôi phục đã làm nòng cốt cho nhân dân nổi dậy, diệt ác ôn, triệt hạ đồn bót, bắt sống hàng ngàn tù binh, phá rã phần lớn lực lượng của địch, thu hàng ngàn súng các loại, giải phóng nhiều vùng nông thôn rộng lớn, giành lại ruông đất cho dân cày, phát triển lực lượng cách mạng nhảy vọt, xây dựng nhiều tiểu đoàn đi tập kết và để lại gần 2.000 cán bộ đảng viên (trong đó có cán bộ quân sự) tiếp tục lãnh đạo đồng bào đấu tranh đòi địch thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ.

Giữa năm 1953, Đồng Văn Cống cùng đoàn cán bộ của Nam Bộ ra Liên Khu V dự chỉnh huấn chính trị do Trung ương tổ chức, sau đó nhận nghiệm vụ Ủy viên thường vụ Khu ủy kiêm Tham mưu trưởng Phân liên khu miền Đông. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, ông được chỉ định là thành viên của Ban Liên hiệp đình chiến Trung ương tham gia hội nghị Trung Giã, trực tiếp lo việc tập kết cho bộ đội Nam Bộ. Kể từ đó Đồng Văn Cống không có dịp trở lại chỉ huy trực tiếp LLVT Bến Tre. Ông luôn dành sự ưu ái dõi theo phong trào cách mạng tỉnh nhà mặc dù ông bận công tác xa. Ông và những cộng sự của ông đã để lại tình cảm và lòng kính phục cùng với những bài học quý về xây dựng cơ sở, tích lũy lực lượng, sử dụng sức mạnh tổng hợp, nổi dậy diệt địch để giải phóng, giành quyền làm chủ, tổ chức lực lượng cho mình, góp sức xây dựng lực lượng cho trên, được cán bộ và nhân dân Bến Tre kế thừa, phát huy và sáng tạo trong xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện ở thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, phát triển định hình thế tiến công bằng “hai chân ba mũi” được manh nha từ thời kháng Pháp, lập nên 8 chữ vàng truyền thống “Anh dũng Đồng Khởi – thắng Mỹ, diệt ngụy”.

Công lao của Tướng quân Đồng Văn Cống – người đầu tiên tổ chức, xây dựng, chỉ huy chiến đấu Đội du kích Tân Hào, Chi đội trưởng Chi đội 19, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 99 và là một trong những người đặt nền móng xây dựng LLVT tập trung của Bến Tre, có vị trí xứng đáng trong lịch sử chiến tranh nhân dân và đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Bến Tre trong thời kỳ chống Pháp, trở thành một trong những danh tướng xuất thân từ xứ dừa – Bến Tre.
_________________
Anh đi giết giặc biên thùy
Dẹp yên bờ cõi ta thì nên duyên
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn Website của thành viên này
tkhanh
Thượng úy
Thượng úy


Ngày tham gia: 24/07/2007
Bài gửi: 506

Bài gửigửi: 27.02.2009    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Phiên hiệu đơn vị KT và các đơn vị chiến đấu tại Mặt trận Tây Nguyên B3

http://www.laodong.com.vn/Home/Phien-hieu-don-vi-KT-va-cac-don-vi-chien-dau-tai-Mat-tran-Tay-Nguyen-B3/200810/109241.laodong

- Tiểu đoàn pháo binh 200 gồm 148 cán bộ, chiến sỹ được lựa chọn từ hai tiểu đoàn pháo của F324 và F305, vào Tây Nguyên từ đầu năm 1961. Tháng 02.1967, trên cơ sở tiểu đoàn pháo binh 200, trung đoàn 40 pháo binh được thành lập, mang số hiệu tên huyện 40 ( Đắkglây Kon Tum )- để luôn nhớ tới nơi đứng chân của Tiểu đoàn 200, đơn vị pháo binh đầu tiên vào chiến trường B3. E40 pháo binh gồm có các tiểu đoàn 30, 31, 32, và 34. E40 đã chiến đấu ở B3 đến năm 1975.

- Trung đoàn 320 vào B3 từ tháng 9.1964, là trung đoàn đầu tiên đủ quân được chọn lọc từ 3 sư đoàn 304, 308, 350. Tiếp theo đó là các Trung đoàn bộ binh 101A thuộc F325A, Trung đoàn 33 (101B) thuộc F325B, tiểu đoàn 545 quân khu Tây Bắc và tiểu đoàn đặc công 952.

- Trung đoàn 66 ( gồm các tiểu đoàn 7,8,9 ) thuộc F304 xuất phát ngày 20/8/1965 từ Thanh Hoá lên đường vào Tây Nguyên chiến đấu. Đầu tháng 11.1965, E66 kịp thời có mặt tại thung lũng Ia Đrăng để tham gia chiến dịch PlâyMe lịch sử. E66 đã lập công xuất sắc trong chiến dịch PlâyMe, được phong tặng danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân, nên còn gọi là Đoàn PlâyMe để ghi nhớ truyền thống của Trung đoàn và E66 đã chiến đấu ở Tây Nguyên cho đến năm 1975.

- Sư đoàn 1 được thành lập tháng 12.1965 tại Mặt trận B3, gồm các Trung đoàn 66, 33, 320. Đầu năm 1967, Tây Nguyên được bổ sung tiểu đoàn 33 hoả tiễn ĐKZB và Trung đoàn bộ binh 174. Vào đến Tây Nguyên, E174 được biên chế vào đội hình của F1. Cuối năm 1968, F1gồm các Trung đoàn 33, 320 và 174 được lệnh cơ động vào miền Đông Nam Bộ và đến cuối năm 1969, F1 đã giải thể để đưa các Trung đoàn thọc sâu xuống đồng bằng sông Cửu Long chiến đấu .

- Trung đoàn 88 bộ binh thuộc F308, Trung đoàn 24A bộ binh thuộc Quân khu Tả ngạn và Sư đoàn 325B vào B3 từ đầu năm 1966. Vào đến Tây Nguyên, F325B được đổi thành F10 ( mang phiên hiệu Nông trường 10 ). Đến cuối năm 1966, một số Trung đoàn của Tây Nguyên được điều động vào Nam Bộ, đồng thời F10 chuyển sang hoạt động phân tán từng Trung đoàn để phù hợp tình hình chiến đấu trên chiến trường.

- Trung đoàn 95 từ mặt trận phía tây Thừa Thiên Huế chuyển lên chiến đấu ở Tây Nguyên từ giữa năm 1966 cho đến năm 1975.

- Sau Tết Mậu Thân 1968, Bộ Tổng Tư lệnh bổ sung cho Tây Nguyên các đơn vị: Trung đoàn 209 hành quân từ miền Bắc vào, Sư đoàn 325C ( thiếu 1 trung đoàn ) từ Khe Sanh - Quảng Trị đến, Trung đoàn 10 và 20 từ đồng bằng Khu 5 lên. Sau một thời gian ngắn hoạt động ở Tây Nguyên, hầu hết các đơn vị trên đã được Bộ Tổng Tư lệnh điều vào miền Đông Nam Bộ.

- Đến cuối năm 1968, khối chủ lực Tây Nguyên chỉ còn lại ba Trung đoàn bộ binh là 66, 95, 24A, Trung đoàn 40 pháo binh và một số tiểu đoàn binh chủng kỹ thuật.

- Trung đoàn 28 thành lập ngày 15.10.1968 tại Quảng Bình với lực lượng gồm các tiểu đoàn 8A, 8B và tiểu đoàn 3 là những đơn vị độc lập của Mặt trận Trị Thiên. E28 vào B3 chiến đấu từ tháng 02.1969. Trong mấy tháng mùa mưa năm 1970, E28 phối hợp với E24A sang làm nhiệm vụ quốc tế ở Hạ Lào, giải phóng thị xã AtôPơ. Sau đó, E28 đã chiến đấu ở Tây Nguyên đến năm 1975.

- Cuối năm 1971, E24A được điều động vào miền Đông Nam Bộ. Đầu năm 1972, Bộ Tổng tư lệnh đã bổ sung cho Tây Nguyên các đơn vị, gồm: Sư đoàn 320A, Trung đoàn 24B, Trung đoàn 7 công binh, Trung đoàn pháo binh 675, ba tiểu đoàn pháo cao xạ 37 ly, 01 tiểu đoàn xe tăng T54, 01 tiểu đoàn ô tô vận tải, 01 tiểu đoàn thông tin và Sư đoàn 2 QK5 cùng với khối chủ lực hiện có ở Tây Nguyên gồm 03 trung đoàn bộ binh 66, 95, 28 ; trung đoàn pháo binh 40; tiểu đoàn 631, các tiểu đoàn đặc công 37, 406 Kon Tum, cùng một số đơn vị binh chủng kỹ thuật để mở chiến dịch giải phóng Đắk Tô - Tân Cảnh.

- Sư đoàn 10 được thành lập ngày 20. 9. 1972 tại huyện Đắk Tô, thành phần gồm 03 Trung đoàn bộ binh 28, 66, 95 và 8 tiểu đoàn binh chủng kỹ thuật ( gồm : D37 đặc công, D30 pháo cao xạ, D32 pháo hỗn hợp, D41 pháo cơ giới, D24 quân y, D25 vận tải, D26 thông tin và D31 công binh ), đều là những đơn vị có truyền thống chiến đấu vẻ vang, đã trải qua nhiều năm gắn bó với địa bàn cao nguyên chiến lược. F10 còn có tên gọi là Đoàn Đắk Tô để luôn nhớ về nơi thành lập và truyền thống anh hùng của các đơn vị trong Sư đoàn đã lập công xuất sắc trong chiến dịch giải phóng Đắk Tô - Tân Cảnh tháng 4.1972. Giữa năm 1973, E24B được điều động về Sư đoàn 10, đến tháng 12.1973, E95 được tách ra khỏi F10 để tiếp tục nhiệm vụ đánh cắt giao thông, từ đó đến nay đội hình của F10 gồm 3 Trung đoàn 66, 28 và 24B.

Cả hai Trung đoàn 24A và 24B đều kế thừa truyền thống của Trung đoàn 42 từ thời chống Pháp ở vùng Tả ngạn sông Hồng, được Bác Hồ khen " Trung dũng và luôn luôn trung dũng ".Vào đến Tây Nguyên, E42 được đổi thành E24. E24A chiến đấu ở Tây Nguyên từ đầu năm 1966 đến cuối năm 1971 và từ 1972 đến 1975: chiến đấu ở miền Đông Nam Bộ. E24B chiến đấu ở Tây Nguyên từ đầu năm 1972 đến năm 1975.

- Trong thời gian từ tháng 01.1975 đến cuối tháng 3.1975, các đơn vị đã tham gia chiến dịch giải phóng Tây Nguyên, gồm có :

F10; F320A; F316( từ Nghệ An hành quân vào ); F968; Trung đoàn 25; Trung đoàn 95; Trung đoàn 95B(thuộc F325); Trung đoàn đặc công 198; hai Trung đoàn pháo binh 40 và 675; ba Trung đoàn pháo cao xạ 232, 234 và 593; Trung đoàn xe tăng 273; hai Trung đoàn công binh 7 và 575 (thuộc Đoàn 559); Trung đoàn thông tin 29; 2 Tiểu đoàn vận tải và cầu phà ; 3 trạm sửa chữa xe pháo và các đội điều trị. Ngoài ra còn có các đơn vị phối hợp và phối thuộc ở các hướng, gồm : Sư đoàn 3 Sao Vàng của QK5 từ Bình Định hành quân đến đông An Khê-Gia Lai; Trung đoàn bộ binh 271; Tiểu đoàn đặc công 14 của Miền đến Gia Nghĩa ; Tiểu đoàn 21 của Sư đoàn 470 ( thuộc Đoàn 559 ) đến Bản Đôn.

F968 là Sư đoàn bộ binh, thuộc Đoàn 559-Bộ đội Trường Sơn- đường HCM. Từ cuối năm1974 trở về trước: F968 đóng quân ở bên Lào. Tháng 01.1975: F968 được điều động từ Hạ Lào về Mặt trận Tây Nguyên, bí mật luồn vào thay vị trí của F10 và F320A tại Kon Tum, Gia Lai, thực hiện kế hoạch nghi binh lừa địch để 2 Sư đoàn 10 và 320A bí mật hành quân về Đắk Lắk, tạo bất ngờ cho chiến dịch giải phóng Buôn Ma Thuột .

F320A kế thừa truyền thống của Sư đoàn 320( Đại đoàn Đồng Bằng ) được thành lập ngày 16.01.1951 ở Quân khu 3. F320A gồm 4 trung đoàn: 48, 52, 54 và 64. Năm 1968-1969: F320A chiến đấu ở Cam Lộ - Quảng Trị ; năm 1970-1971: chiến đấu ở đường 9 - Nam Lào; từ đầu năm 1972 đến năm 1975: chiến đấu ở Tây Nguyên.

F10 cùng với F320A là những Sư đoàn chủ lực mạnh của chiến trường B3, đã lập nhiều chiến công xuất sắc. Trong đội hình F10 có các Trung đoàn 66, 28, 24B là những đơn vị có bề dày thành tích chiến đấu trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Trung đoàn 66 đã hai lần được phong tặng danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân. Sau khi giải phóng Tây Nguyên - Buôn Ma Thuột, F10 và F320A là lực lượng nòng cốt, vinh dự đứng trong đội hình Quân đoàn 3 được thành lập ngày 26.3.1975, tạo thành mũi tiến công quan trọng tiến về giải phóng Sài Gòn trong chiến dịch HCM lịch sử.
_________________
Anh đi giết giặc biên thùy
Dẹp yên bờ cõi ta thì nên duyên


Được sửa chữa bởi tkhanh ngày 27.02.2009, sửa lần 1
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn Website của thành viên này
tkhanh
Thượng úy
Thượng úy


Ngày tham gia: 24/07/2007
Bài gửi: 506

Bài gửigửi: 27.02.2009    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

45 năm thành lập Trung đoàn 962 (19.9.1962 – 19.9.2007)
Trong chiến tranh chống Mỹ, Đoàn 962 - Một binh đoàn luôn gắn bó với vùng sông nước Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và Cà Mau vùng đất cực Nam nói riêng...Đoàn 962 cùng quân và dân Cà Mau đã ghi dấu nhiều chiến công anh hùng ở mỗi con sông, mỗi cánh rừng mà anh bộ đội cụ Hồ của Đoàn 962 đi qua. Có thể nói trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, Đoàn 962 là một trong những đơn vị làm nên chiến thắng diệu kỳ để Tổ quốc Việt Nam thống nhất một dải từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau. Nhân kỷ niệm 45 năm Ngày thành lập Trung đoàn 962 (19/9/1962 - 19/9/2007), chúng tôi phản ánh đến bạn đọc một vài hình ảnh, tư liệu của Đoàn 962 trong công cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc tại Cà Mau.



NHỮNG DÒNG SÔNG HUYỀN THOẠI
Đoàn tàu “không số” của Hải quân Việt Nam và những bến cảng của Đoàn 962 dọc theo bờ biển Bà Rịa, Bến Tre, Trà Vinh, Cà Mau đã làm con đường Hồ Chí Minh trên biển càng thêm huyền thoại. Là lớp người cách sự kiện hai, ba thế hệ, nay tìm lại cũng cần nhiều thời gian, nhân chứng và cũng không ít khó khăn. Và khi đã có tài liệu, đứng ngay vùng đất rừng, biển - nơi sinh ra những sự kiện huyền thoại mà chúng tôi thấy nó mênh mông, chưa biết bắt đầu từ hướng nào. Nhìn con nước lớn chảy vào những dòng sông mang nặng phù sa, trong đó có nhiều loài thủy sản sinh sôi, đã giúp chúng tôi cái tứ để tiếp cận sự kiện lịch sử này. Bởi lẽ, con nước nơi những dòng sông, những tán rừng và những xóm làng này cũng sinh sôi từ những dòng sông này.

Chú Tiết Văn Thẹo - người dẫn chúng tôi qua những dòng sông ra cửa biển, kể: Tôi là dân xứ này, chú bác tôi là người nuôi dưỡng, bảo vệ Tổng Bí thư Lê Duẩn, nên từ hồi 14-15 tuổi, tôi được tiếp xúc, làm giao liên xã với những cán bộ, chiến sĩ của Đoàn 962. Khi 17 tuổi nhập ngũ, chính thức làm người lính 962.

Xuôi dòng sông Rạch Gốc, ông kể cho chúng tôi: Từ cửa Tân Ân chạy vào đến Đường Kéo là sông Rạch Gốc. Tại ngã ba rẽ trái là sông Đường Kéo, đi thẳng tới nữa là sông Dinh Hạng, chạy tới Hóc Năng rồi chia thành hai nhánh, phía hữu ngạn đổ ra biển, phía tả ngạn đổ về cửa lớn- Bồ Đề. Từ cửa Tân Ân đến cửa Bồ Đề có con sông chính hơn 40km, có đến 10 con sông có cửa thông qua Biển Đông. Theo những dòng sông chen với rừng cây là những nhà dân. Họ gắn bó với sông, với biển, với rừng để đánh cá, bắt cua, đóng đáy. Vào những năm 30 của thế kỷ trước, dân cư có trên 100 hộ, hầu hết là dân lao động nghề biển, làm thuê cho Hạt Kiểm lâm, đốn cây rừng, hầm than và “ăn ong”. Rừng rậm rạp, ong mật làm tổ vô kể nên ở đây có thời gọi là “Quỳnh Lạp”, tức là lấy sáp ong làm đèn cầy bán cho các thương lái. Cũng trên các con sông này, thầy giáo Phan Ngọc Hiển đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai ngày 13-12-1940 đi vào lịch sử.

Vẫn men theo triền sông, chú Bảy Thẹo chỉ tay ra hiệu cho người lái vỏ rẽ vào vàm sông, chú nói với chúng tôi: Đây là sông Vàm Lũng, một trong hàng chục con sông đi ra biển Đông. Những dòng sông này đã từng ôm ấp những chuyến tàu vận chuyển hàng hóa, vũ khí từ miền Bắc vào. Rồi ông lại đưa tay về phía con rạch rợp mát bóng cây. Đến đây chúng tôi yêu cầu người lái chiếc vỏ lãi dừng lại, để hình dung những cảnh quay và nghe chú Tiết Văn Thẹo - người chính trị viên của Đoàn 962 năm xưa, nay là Phó Chủ tịch Hội Cựu Chiến binh của huyện kể chuyện. Dưới bóng đước mát rượi, tôi giở kịch bản phim tài liệu về “Bến cảng lòng dân” mà chúng tôi sắp thực hiện. Trong đó có những chi tiết được thực hiện từ các bài phát biểu, những cuộc hội thảo về “Đoàn tàu không số” và “Đoàn 962”. Đối với Đoàn tàu không số, nội dung kịch bản ghi: “Cùng với yêu cầu của cách mạng miền Nam và những chuyến đi khảo sát của những cán bộ do đồng chí Bông Văn Dĩa phụ trách, thường trực Quân ủy Trung ương giao nhiệm vụ vận tải cho Quân chủng Hải quân phụ trách. Thực hiện nhiệm vụ này, Quân chủng Hải quân thành lập Đoàn 125 - Đoàn tàu không số thực hiện nhiệm vụ đặc biệt vận chuyển vũ khí từ Bắc vào Nam.

Cùng với việc thành lập Đoàn tàu không số thì các bến cảng cũng được tiến hành khảo sát, thành lập dưới sự chỉ đạo của Khu ủy Khu 7, Khu 8 và Khu 9. Các bến được thành lập theo tuyến bờ biển miền Nam như: Bà Rịa, Bến Tre, Trà Vinh, Cà Mau quân số biên chế tương đương cấp sư đoàn. Bến Cà Mau với địa hình thuận lợi cho tàu vào các cửa sông cũng như cây rừng che chắn ngụy trang cho tàu nên đuợc xem là bến chính của đoàn. Sự kiện đánh dấu trong lịch sử của Đoàn 962 và Đoàn tàu không số, đó là đêm 11-10-1962, tàu gỗ đầu tiên chở 33 tấn vũ khí, mang mật danh “Phương Đông 1” do đồng chí Lê Văn Một làm thuyền trưởng, đồng chí Bông Văn Dĩa, Bí thư Chi bộ đã rời bến Nghiên (Hải Phòng) sau 5 ngày đã cập bến Vàm Lũng. Sự kiện này đã đánh dấu cho việc vận tải chiến lược xuyên biển Đông đã mở. Ngày 16-10-1962 (18-9 năm Nhâm Dần), cán bộ trong đoàn lấy tháng 9 năm 62 đặt tên cho đoàn là Đoàn 962. Lật qua những trang kịch bản phim tài liệu, ở đó còn ghi: “Từ chiếc tàu Phương Đông 1, sau đó là các Phương Đông 2 rồi Phương Đông 3, Phương Đông 4 cùng vào cảng năm 1962. Từ bến Cà Mau, sau đó là các bến như: Bến Tre, Trà Vinh… đều có tàu đi vào. Trong 14 năm thực hiện vận chuyển chiến lược biển, Đoàn tàu không số đã vận chuyển 124 chuyến, với 6613 tấn vũ khí, số này riêng bến Cà Mau tiếp nhận tới 76 chuyến với 4294 tấn vũ khí các loại.

Ngồi dưới bóng mát cây rừng, chú Bảy chỉ xuống nước và nói với chúng tôi: “Chỗ mình đang ngồi là rạch Xẻo Dà, xa đằng kia ngã tư, bên này là ngã tư nhỏ, bên kia là ngã tư lớn. Ở đây các con sông thuận lợi cho người dân làm ăn và cũng rất thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ bến bãi, cất giấu, bảo quản kho tàng. Nếu tính theo chiều dài bờ biển thì cứ từ 2-3km là có một cửa sông từ biển chạy vào từ 14-15km gặp sông Rạch Gốc hay sông Dinh Hạng. Trong sông có các con rạch. Nhờ các con rạch này mà tàu được đưa vào ngụy trang, rồi đi sâu trong các con rạch là cơ quan kho tàng…”.

Nhìn dòng sông, con nước lớn mang những lá khô theo nước lên rừng, chú Bảy Thẹo lại nói với tôi như một lời giảng giải: Ở miền biển này, người dân hay suy theo âm lịch, cán bộ trong đoàn cũng tính theo cách này. Nghĩa là trong tháng có hai lần nước rong và nước kém. Đối với người dân sẽ thuận lợi cho việc đánh bắt thủy sản, đối với bến là thời điểm dẫn con tàu vào sâu trong các kênh rạch. Nước rong là nước triều cao nhất, là thời điểm tốt nhất của con tàu từ ngoài biển vào các bến. Có một thời những dòng sông với những con nước rong đầy đã làm nên những điều huyền thoại, quá trình vận chuyển phải luôn ngụy trang hết sức khéo léo, nhằm qua mắt bọn máy bay trinh sát, bọn tàu chiến của Mỹ - ngụy, để những con tàu chở vũ khí, hàng hóa từ Bắc vào Nam cập bến được an toàn. Vẫn cánh rừng, con sông ấy, hôm nay người dân Rạch Gốc - Tân Ân đang làm hết sức mình vì một quê hương rừng, biển sinh sôi.
_________________
Anh đi giết giặc biên thùy
Dẹp yên bờ cõi ta thì nên duyên
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn Website của thành viên này
daccongbacviet
Thượng tướng
Thượng tướng


Ngày tham gia: 01/05/2007
Bài gửi: 4653
Đến từ: TP Vũng Tàu, Việt Nam

Bài gửigửi: 27.02.2009    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Chi tiết năm 66 sư 325 vào TN đổi tên thành F10 nghe hơi lạ Question Anh tkhanh cho em cái nguồn phát Cool
_________________
But if you wanna cry, cry on my shoulder...
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn gửi email
daccongbacviet
Thượng tướng
Thượng tướng


Ngày tham gia: 01/05/2007
Bài gửi: 4653
Đến từ: TP Vũng Tàu, Việt Nam

Bài gửigửi: 27.02.2009    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Mấy ông này bé cái nhầm roy ( sau khi coi link ) Cool Cool
_________________
But if you wanna cry, cry on my shoulder...
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn gửi email
tkhanh
Thượng úy
Thượng úy


Ngày tham gia: 24/07/2007
Bài gửi: 506

Bài gửigửi: 28.02.2009    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Tiểu đoàn 375 - tỉnh đội Phú Yên

LỊCH SỬ NHỮNG NGÀY ĐẦU MỚI THÀNH LẬP TIỂU ĐOÀN 375

Đầu tháng 2/1954, Bộ Chỉ huy chiến dịch Đông - Xuân - Hè 1953-1954 ra quyết định: Rút đại đội 4, tiểu đoàn 19 thuộc Trung đoàn 108; đại đội 10, tiểu đoàn 19, Tỉnh đội Quảng Nam; đại đội 389 của Tỉnh đội Phú Yên, đổi thành phiên hiệu mới: Đại đội 1, đại đội 2 và đại đội 3 để thành lập Tiểu đoàn 375 - Tiểu đoàn chủ lực thuộc Tỉnh đội Phú Yên.

Đại đội 1 Tiểu đoàn 375 nguyên gốc là đại đội 4, Tiểu đoàn 19, Trung đoàn 108, do đồng chí Phạm Dưng làm đại đội trưởng. Tiểu đoàn 19 có 4 đại đội, đều dày dạn kinh nghiệm trong chiến đấu giỏi nhất Quân khu 5. Đại đội 2, Tiểu đoàn 375, nguyên gốc là đại đội 10 của Tiểu đoàn 49 Tỉnh đội Quảng Nam. Hai đại đội này lên tham gia chiến dịch Nam Tây Nguyên và thành lập Tiểu đoàn 40 thuộc Trung đoàn 84. Sau đó, Tiểu đoàn 40 trực thuộc Quân khu 5. Quân khu 5 mở chiến dịch Bắc Tây Nguyên, đưa đại đội 1 và đại đội 2 Tiểu đoàn 40 lên Kon Tum. Còn đại đội 3 và đại đội 4 đứng chân ở Ba Tơ. Bộ Chỉ huy chiến dịch điều động đại đội 1 và đại đội 2 vào Phú Yên kết hợp với đại đội 389 để thành lập Tiểu đoàn chủ lực cơ động tăng cường sức mạnh cho Tỉnh đội Phú Yên.



Ban chỉ huy Tiểu đoàn 375 gồm có:



- Đồng chí Phạm Dưng - Tiểu đoàn trưởng.

- Đồng chí Nguyễn Hoanh - Chính trị viên trưởng.

- Đồng chí Đôn Thanh - Tiểu đoàn phó.

- Đồng chí Nguyễn Lầu - Chính trị viên phó.



Sáng ngày 25/2/1954, nhận được quyết định thành lập Tiểu đoàn 375. Ngay đêm đó, đồng chí Phạm Dưng, tiểu đoàn trưởng đưa đại đội 1 và đại đội 2 từ Ba Tơ (miền Tây Quảng Ngãi) hành quân cấp tốc suốt ngày đêm về Phú Yên.



Cán bộ, chiến sĩ của hai đại đội 1 và 2 băng rừng lội suối rồi theo đường tắt xuyên qua Bình Định, Vân Canh, Cây Vừng, Xuân Quang, tranh La Hai về Xuân Sơn để liên lạc với Tỉnh đội Phú Yên.



Cuộc hành quân vô cùng gian khổ. Chiều tối ngày 6/3/1954, đại đội 1 và đại đội 2 Tiểu đoàn 375 vừa đến Nam Xuân Sơn. Chưa kịp liên lạc với Tỉnh đội Phú Yên thì trinh sát được tin sáng ngày mai 7/3/1954 sẽ có đoàn xe địch chở một đại đội lính Âu Phi và quân dụng từ thị xã Tuy Hòa ra La Hai.



Sau khi xác minh lại nguồn tin là sự thật, Tiểu đoàn trưởng Phạm Dưng quyết định bố trí trận địa tiêu diệt ngay đoàn xe của địch rồi liên lạc với Tỉnh đội Phú Yên sau. Với tinh thần luôn luôn sẵn sàng cướp thời cơ tiến công tiêu diệt địch. Gặp địch lúc nào, bất kỳ nơi nào là đều quyết tâm chiến đấu và quyết thắng; đó cũng là mệnh lệnh của Trung ương Đảng và Bộ Tư lệnh Liên khu 5.

Sáng ngày 7/3/1954, trận đánh diễn ra tại khu vực Bầu Vườn (trên đường Phong Niên - La Hai) tiêu diệt 26 xe và một đại đội lính Âu Phi.



Lúc đó tuy chưa xác định được đơn vị nào đánh tiêu diệt đoàn xe 26 chiếc và một đại đội lính Âu Phi, nhưng tin chiến thắng loan khắp cả tỉnh, Tỉnh đội Phú Yên cũng như Bộ Tư lệnh Liên khu 5 vô cùng phấn khởi đã khen ngợi quân và dân Phú Yên. Đó là trận chiến đấu và chiến thắng đầu tiên của Tiểu đoàn 375 trong ngày mới thành lập Tiểu đoàn trên đất Phú Yên trong chiến dịch Át Lăng.



Chiều hôm đó (7/3/1954), tại xã An Định, đại đội 389 của Tỉnh đội Phú Yên sát nhập thành đại đội 3 của Tiểu đoàn 375. Ba đơn vị ở ba tỉnh khác nhau, chưa hề quen biết, nhưng cùng chung một lý tưởng, một nhiệm vụ là quyết tâm chiến đấu và chiến thắng, cho nên vừa mới gặp nhau trong những ngày đầu khi Tiểu đoàn vừa thành lập, đã trở thành anh em ruột thịt một nhà.



Đêm 7/3/1954, toàn Tiểu đoàn 375 vừa mới hội quân đầy đủ đã hành quân về xã An Nghiệp (huyện Tuy An) để nghỉ chân, làm công tác tổ chức và sẵn sàng cho những trận chiến đấu tiếp theo với tinh thần và khí thế rất cao.

NHỮNG TRẬN ĐÁNH OANH LIỆT VÀ CHIẾN THẮNG VẺ VANGTRONG CHIẾN DỊCH ÁT LĂNG CỦA TIỂU ĐOÀN 375

1- Trận Phong Niên - La Hai trận đầu ra quân của Tiểu đoàn 375 ngày 7/3/1954 tiêu diệt 26 xe quân sự và một đại đội Âu Phi

2- Trận chống càn xã An Nghiệp ngày 8/3/1954 đánh lui một tiểu đoàn bộ binh địch đi yểm trợ giải trận Phong Niên - La Hai.

3- Trận Đồng Tròn xã An Lĩnh ngày 10/3/1954 đánh tan một tiểu đoàn Ngự lâm quân số I do tên Bảo Long chỉ huy.

4- Trận Suối Cối ngày 21/3/1954, phối hợp với Tiểu đoàn 365, đánh tan Tiểu đoàn Ngự lâm quân số II.

5- Tập kích đèo Quán Cau đêm 10/4/1954.

6- Trận đánh sập cầu 12 Chí Thạnh - Chí Đức đêm 12/4/1954.

7- Trận đánh tiêu diệt bót gác Chóp Chài đêm 15/4/1954.

8- Trận tập kích đồn Bàn Nham đêm 20/4/1954.

9- Trận Ga Gò Mầm ngày 30/4/1954.

10- Trận chống càn Hòa Tân ngày 1/5/1954 đánh lui một tiểu đoàn địch, đi càn quét giải tỏa Ga Gò Mầm.

11- Phối hợp với Tiểu đoàn 365 đánh đồn Núi Sầm đêm 10/5/1954.

12- Trận Hòa Quang ngày 24/5/1954 đánh lui hai tiểu đoàn địch đi càn quét.

13- Trận chống càn Minh Đức - Quan Quang ngày 28/5/1954 đánh tan một trung đoàn ngụy quân do Nguyễn Khánh chỉ huy.

14- Đại đội 3 Tiểu đoàn 375 chặn đánh quân Pháp rút chạy khỏi Chí Thạnh ngày 19/6/1954 một ngày 3 trận liền.

15- Trận tập kích căn cứ Màng Màng đêm 19/6/1954.

16- Trận tập kích vào thị xã Tuy Hòa đêm 21/6/1954.


Chấp hành chỉ thị của Bộ Tư lệnh Liên khu 5, Tỉnh đội Phú Yên chỉ đạo cho Tiểu đoàn 375 rút một số đồng chí có kinh nghiệm chiến đấu đưa về Tỉnh đội Khánh Hòa làm nòng cốt để thành lập một tiểu đoàn chủ lực mới, chuẩn bị Tổng tấn công trên toàn mặt trận Liên khu 5.

Từ cuối tháng 6/1954, quân địch có nhiều hiện tượng muốn rút bỏ An Khê về cố thủ Pleiku. Ở đồng bằng, quân địch đã bỏ Diêu Trì về cố thủ Quy Nhơn; bỏ Chí Thạnh - Sông Cầu về cố thủ thị xã Tuy Hòa. Lúc này tất cả các đơn vị thuộc Tỉnh đội Phú Yên đã bao vây khép chặt tập đoàn căn cứ địch ở thị xã Tuy Hòa không cho chúng rút chạy.


Trong lúc bộ đội ta ở chiến trường Tây Nguyên và đồng bằng Liên khu 5 đã chuẩn bị đầy đủ để chờ lệnh Tổng tấn công thì Hiệp định Giơnevơ được ký kết vào ngày 20/7/1954. Hai bên ngừng bắn. Quân đội Pháp đóng quân từ vĩ tuyến 17 trở vào Quân đội nhân dân Việt Nam dân chủ cộng hòa đóng quân từ vĩ tuyến 17 trở ra. Sau 2 năm tổ chức Tổng tuyển cử thống nhất nước nhà kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp ở Việt Nam.

Đất nước chuyển sang giai đoạn lịch sử mới đầy cam go, phức tạp trong suốt 20 năm; toàn dân tộc đấu tranh để có ngày hôm nay nước nhà độc lập, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ.


Ngày 2/9/1954, tại Gò Đại, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, Liên khu 5 tổ chức Lễ mừng Quốc khánh. Sau lễ Quốc khánh, Bộ Tư lệnh Liên khu 5 công bố quyết định của Bộ tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam: “Thành lập sư đoàn 324, gồm ba Trung đoàn 803, 96 và 90. Tiểu đoàn 375 lúc bấy giờ là Tiểu đoàn nòng cốt của Trung đoàn 90, Sư đoàn 324. Sau đó Tiểu đoàn 375 tập kết ra miền Bắc, làm nhiệm vụ xây dựng quân đội chính quy hiện đại, xây dựng và bảo vệ miền Bắc và sẵn sàng trở lại chiến đấu ở chiến trường miền Nam để giải phóng quê hương.

Tiểu đoàn 375 được thành lập ngày 25/2/1954, là giai đoạn gay go, quyết liệt nhất của cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp xâm lược. Trong 146 ngày đêm chống chiến dịch Át Lăng trên chiến trường Phú Yên là một chặng đường chiến đấu đầy hy sinh gian khổ nhưng chói lọi chiến công. Tiểu đoàn đã đánh 22 trận lớn nhỏ, tiêu diệt và bắt sống hàng ngàn tên địch, phá hủy hàng trăm xe quân sự và phương tiện chiến tranh khác, góp phần quan trọng cùng bộ đội địa phương và dân quân du kích làm thất bại âm mưu đánh chiếm vùng tự do Liên khu 5 của thực dân Pháp.

Được sự lãnh đạo của Đảng mà trực tiếp là Liên khu ủy 5 và Tỉnh đội Phú Yên, cán bộ và chiến sĩ Tiểu đoàn 375 đã đồng lòng, hợp lực với tinh thần quyết chiến quyết thắng, với lòng yêu nước nồng nàn và lòng căm thù giặc sâu sắc đã vượt qua mọi gian khổ, hy sinh quyết tâm hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Tiểu đoàn đã phối hợp chặt chẽ với dân quân du kích và nhân dân các địa phương trong tỉnh Phú Yên đánh bại nhiều cuộc hành quân càn quét của địch, làm cho chúng phải kinh hoàng, khiếp sợ.

Từ khi có quyết định thành lập Tiểu đoàn 375 ngày 25/2/1954, đến khi tiểu đoàn được lệnh giải thể để làm nhiệm vụ khác, một khoảng thời gian không dài, nhưng tiểu đoàn đã ghi được dấu ấn của mình trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trên chiến trường Phú Yên xứng đáng với sự tin cậy của Đảng và của nhân dân. Là đơn vị được sinh ra và lớn lên trên quê hương Phú Yên, cán bộ và chiến sĩ Tiểu đoàn 375 đã được nhân dân Phú Yên hết lòng thương yêu, nuôi dưỡng, đùm bọc, che chở, quý trọng như những đứa con đẻ của mình. Tình quân dân cá nước đó là sức mạnh vô cùng to lớn để cán bộ và chiến sĩ Tiểu đoàn 375 hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ của Đảng và nhân dân giao phó.


Sau ngày hòa bình độc lập, thống nhất Tổ quốc, những cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 375 năm xưa còn sống, người chuyển ngành, người về hưu, người giải ngũ; dù ở trận tuyến công tác nào anh em cũng đều giữ vững và phát huy truyền thống Bộ đội Cụ Hồ, truyền thống Quyết chiến, Quyết thắng của quân đội ta và truyền thống của Tiểu đoàn 375 anh hùng, làm tốt mọi nhiệm vụ ở mọi vị trí công tác mới.

Cách đây 5 năm, cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 375 đã tập hợp về đây để Kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Tiểu đoàn 375. Năm năm qua, nhiều người đã ra đi về cõi vĩnh hằng, trong đó có đồng chí Tiểu đoàn trưởng Phạm Dưng (từ trần năm 2007). Hiện nay những chiến sĩ trẻ tuổi nhất của Tiểu đoàn 375 nhập ngũ đầu năm 1954, trong dịp thành lập Tiểu đoàn, thì nay cũng đã ngoài 70 tuổi. Nhưng dù tuổi cao, sức yếu, những cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 375 còn sống hiện nay, nguyện phát huy truyền thống của Quân đội Nhân dân Việt Nam, của Tiểu đoàn, tâm niệm rằng còn sức lực đến đâu thì ra sức phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân đến đó, nêu gương sáng cho các thế hệ trẻ noi theo, góp phần nhỏ của mình vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa của chúng ta.

Thời gian càng lùi xa về quá khứ thì truyền thống của Tiểu đoàn 375 càng ngời sáng, làm rạng rỡ truyền thống chiến đấu của Đảng bộ và nhân dân Phú Yên anh hùng. Truyền thống ấy mãi mãi là niềm tự hào của tất cả chúng ta hôm nay và các thế hệ mai sau.
_________________
Anh đi giết giặc biên thùy
Dẹp yên bờ cõi ta thì nên duyên
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn Website của thành viên này
tkhanh
Thượng úy
Thượng úy


Ngày tham gia: 24/07/2007
Bài gửi: 506

Bài gửigửi: 11.04.2009    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

sư đoàn 5 Tây Ninh ( trực thuộc QK7) bao gồm
-trung đoàn 271 ( đóng quân ở Phú Giáo )
-trung đoàn 4
-trung đoàn 5
-trung đoàn pháo binh 28
và 1 số đơn vị công binh , hậu cần , vận tải ...

quân đoàn 4 :
-sư đoàn bộ binh 7 ( hình như ở Phú Lợi )
- sư đoàn bộ binh 9 ( trung đoàn 1 , 2 đóng ở Củ CHi , căn cứ Đồng Dù )
- sư đoàn 309 , hiện chỉ có 1 trung đoàn thường trực ( đóng ở khu CN Biên Hòa )
-Lữ đoàn phòng không 71 – Đoàn phòng không 71 ( cái này hình như ở Sóng Thân )
-Lữ đoàn pháo binh 24 – Đoàn pháo binh H4
-Trung đoàn xe tăng 22 – Đơn vị xe tăng H2
-Trung đoàn 550 công binh – Đơn vị công binh N50
-Trung đoàn thông tin 29
_________________
Anh đi giết giặc biên thùy
Dẹp yên bờ cõi ta thì nên duyên
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn Website của thành viên này
tkhanh
Thượng úy
Thượng úy


Ngày tham gia: 24/07/2007
Bài gửi: 506

Bài gửigửi: 27.05.2009    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

TIỂU ĐOÀN 516

Chiến tranh đã lùi vào dĩ vãng trên 30 năm. Vừa rồi, “người anh chủ lực” đầu tiên của tỉnh Bến Tre – đủ các thế hệ, đã “về đơn vị cũ” ôn lại một chặn đường dài 45 năm. Còn hơn cả những chiến công hiển hách, trong buổi họp mặt (tôi không muốn gọi đây là một cuộc mittinh), già rồi mà họ cứ ôm nhau, hôn nhau đâu khác gì thời trai trẻ, trong đó có cả những giọt nước mắt, họ cứ để lăn tròn trên má đã nhăn nheo. Không ai khác, đó là tiểu đoàn 516 anh hùng.

Sinh ra để cầm súng và chiến đấu

Trong những năm 60 của thế kỷ XX, khi cách mạng Bến Tre còn nằm trong vòng bao vây, kìm kẹp của kẻ thù. Để đối phó với phong trào đấu tranh chính trị đang bùng nổ và lan nhanh sau cuộc Đồng Khởi ngày 17/1/1960 đồng thời tìm và diệt các lực lượng vũ trang cách mạng tại Bến Tre. Thủ đoạn “ấp chiến lược” được chế độ Mỹ – Diệm cho ra đời và thực hiện thí điểm ở Bến Tre. Cùng với nó là những cuộc hành quân quy mô lớn, có cuộc trên 10.000 quân, cả lính bảo an và quân chủ lực với tàu to, súng lớn càn quét vào vùng giải phóng, tự do bắn giết, cướp bóc, bắt bớ, giam cầm những người chúng cho là có liên hệ với “Việt Cộng”. Hàng chục ngàn dân thường bị gom vào sống tập trung trong ấp chiến lược, hòng cách ly với “Cộng sản”.

Trước tình hình lấn chiếm của địch, vùng giải phóng của Bến Tre ngày càng thu hẹp, mặc dù quân và dân ta tổ chức được những trận đánh làm tiêu hao, tiêu diệt một số sinh lực địch, bảo vệ vùng giải phóng, nhưng chưa chuyển được tình hình. Trước tình hình đó, một nhiệm vụ mới đặt ra cho các lực lượng vũ trang là phải tập trung huấn luyện, nâng cao sức chiến đấu của hai đại đội của tỉnh, thành lập đại đội 3 và đại đội trợ chiến, phát triển các phân đội thông tin, trinh sát, đặc công, công binh thành đại đội… đủ sức đứng lại cùng nhân dân, du kích đánh địch càn quét, hỗ trợ cho phong trào quần chúng nổi dậy phá ấp chiến lược. Để đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ cách mạng mới, ngày 15/4/1964 Tiểu đoàn 516 được thành lập và năm ngày sau, chính thức ra mắt tại xã Tân Xuân (huyện Ba Tri). Trong buổi lễ đơn sơ, toàn thể cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 516 đã hạ quyết tâm: “…. Vì nhân dân mà chiến đấu, sẽ hoàn thành mọi nhiệm vụ chính trị của Tỉnh ủy giao phó”.

Những dấu son chói lọi

Đáng chú ý nhất là trận Lộ Thơ, xã Thành Triệu (Châu Thành). Nghĩa là chỉ sau 4 tháng thành lập, vào đêm 19/8/1964, Đại đội 3 (Tiểu đoàn 516) nổ súng tấn công, chỉ 15 phút đồn Phú Túc bị diệt gọn, địch chết tại chỗ 13 tên, bắt sống 9 tên, thu 24 súng các loại. Thắng lợi giòn dã bước đầu cổ vũ tinh thần chiến đấu cho toàn Tiểu đoàn. Diệt xong đồn Phú Túc, Đại đội cơ động ngay về vị trí dự bị cho đội hình phục kích của Tiểu đoàn. Đúng như dự kiến, sáng ngày 20/8/1964 địch dùng tàu lớn đổ bộ 01 Tiểu đoàn vào ấp Phú Mỹ (Phú Túc), dùng máy bay trực thăng đổ Tiểu đoàn 1 (Sư đoàn 7) xuống cạnh đồn Phú Túc. Tiểu đoàn Biệt động quân số 41 còn gọi là “Tiểu đoàn cọp đen” cùng Tiểu đoàn 1 (Sư đoàn 7) phối hợp càn quét vùng Phú Túc – Thành Triệu.
Image

Do địch đi sai trận địa phục kích, Tiểu đoàn 516 chuẩn bị rút quân. Bất ngờ, quân báo phát hiện lệnh của Tiểu khu Kiến Hòa (tên gọi của địch) cho Tiểu đoàn Biệt động quân và Tiểu đoàn 1 (Sư đoàn 7) về ngay lộ 27 (hành quân theo Lộ Thơ ra chi khu Hàm Long). Ban chỉ huy Tiểu đoàn 516 lệnh các đại đội vận động bí mật tiếp cận bờ kênh và Lộ Thơ sẵn sàng đánh địch. 16 giờ 50 phút cùng ngày Đại đội 2 (Tiểu đoàn 516) nổ súng mạnh vào đội hình phía sau địch; các đại đội nhanh chóng nổ súng hợp đồng chiến đấu bao vây chia cắt địch, tiêu diệt từng bộ phận nhỏ. Sau 65 phút chiến đấu Tiểu đoàn “Cọp đen” bị tiêu diệt gọn, Tiểu đoàn 1 (Sư đoàn 7) bị thiệt hại nặng chạy về đồn Thành Triệu. Trong trận đánh này, Tiểu đoàn 516 tiêu diệt và làm bị thương gần 500 tên địch (có cả Ban chỉ huy Tiểu đoàn và 4 cố vấn quân sự Mỹ), bắt sống 52 tên, thu 225 súng các loại (có 01 cối 60 ly, 02 đại liên), 25 máy vô tuyến điện và nhiều trang bị quân sự khác.

Trận đầu ra quân giành chiến thắng vang dội. Từ trận đánh san bằng cứ điểm xã Diệu (Ba Tri) đến Lộ Thơ (Thành Triệu, Châu Thành), Tiểu đoàn 516 đã thể hiện được bản lĩnh chiến đấu và khả năng hợp đồng chiến đấu của mình. Đồng thời, chứng tỏ bước phát triển nhảy vọt của lực lượng vũ trang cách mạng Bến Tre. Điều đáng tự hào là Tiểu đoàn 516 vừa mới ra đời đã ghi đậm dấu ấn truyền thống “Quyết chiến quyết thắng” của Quân đội, tạo được lòng tin đối với Đảng, với nhân dân.

Ngoài trận Lộ Thơ (1964) Tiểu đoàn 516 còn thọc sâu vào sào huyệt của địch diệt gọn 01 đại đội Mỹ tại cầu Cá Lóc trong Tết Mậu Thân (1968), trận Hữu Định (5/1968), trận Gò Tranh – Tân Hào (7/1968), tiêu diệt Tiểu đoàn 1 – Trung đoàn 10 (Sư đoàn 7), tiêu hao nặng 01 Tiểu đoàn Mỹ, bắn chìm và cháy 12 tàu chiến, diệt và làm bị thương trên 400 tên địch (có cả chỉ huy cấp Đại đội, Tiểu đoàn, Trung đoàn) thu hàng trăm súng các loại và máy móc thông tin liên lạc. Trong thời gian tồn tại độc lập, Tiểu đoàn phối hợp với lực lượng trợ chiến tỉnh tiêu diệt và làm bị thương trên 500 tên Mỹ – Ngụy, đánh chìm và cháy 28 tàu, bắn rơi, bắn hỏng 12 máy bay trực thăng. Bẻ gãy cuộc hành quân “tìm và diệt” của địch, tấn công tiêu diệt nhiều căn cứ trọng điểm của địch, bức rút, bức hàng và san bằng hàng trăm đồn tua, tạo điều kiện cho lực lượng vũ trang địa phương mở rộng vùng giải phóng.

Do điều kiện của chiến trường, tháng 7/1972 tỉnh thành lập Trung đoàn Đồng Khởi, từ đây Tiểu đoàn 516 chiến đấu trong đội hình của Trung đoàn và là Tiểu đoàn chủ công của Trung đoàn Đồng Khởi chiến đấu cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30/4/1975). Từ năm 1976 đến 1978, Tiểu đoàn 516 tiếp tục lập công xuất sắc trong chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam. Là Tiểu đoàn của tỉnh nằm trong đội hình chiến đấu của Quân khu, Tiểu đoàn đã tham gia chiến đấu 40 trận, tiêu diệt và bắt sống 119 tên, thu 281 súng các loại. Từ năm 1979 đến năm 1981 thực hiện mệnh lệnh của Quân khu và chấp hành sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 516 được chia ra và nhân lên thành nhiều Tiểu đoàn như 516B, 516C, 516E đưa về trên xây dựng các đơn vị chủ lực Quân khu (cả Quân khu 9 và Quân khu 7), riêng Tiểu đoàn 516E tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc. Và cũng từ năm 1982 phiên hiệu Tiểu đoàn 516 tạm thời kết thúc sứ mệnh lịch sử của mình, thay vào đó là Tiểu đoàn 682, Tiểu đoàn 690 của tỉnh.

Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Tất cả cán bộ, chiến sĩ của Tiểu đoàn 516 đều là con em của nhân dân. Đi đến đâu, về Minh, qua Bảo hay sang cù lao An Hóa, luôn được sự ủng hộ, đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân. Có những trận chiến đấu ngay trong sào huyệt của kẻ thù như cuộc Tổng tiến công nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, nơi nội ô Thị xã vẫn có các bà mẹ, người chị đem từng nắm cơm đến tận tay người chiến sĩ, cất giấu, chăm sóc, nuôi dưỡng thương binh cho sớm bình phục để trở lại chiến trường. Có những thời kỳ địch bao vây phong tỏa, bình định lấn chiếm, cắt đường tiếp tế của ta, các mẹ, các chị vận động nhân dân quyên góp ủng hộ lương thực, thực phẩm và các vật dụng khác gởi đến cho Tiểu đoàn bảo đảm cho bộ đội ăn no, đánh thắng. Những tình cảm quý báu, thiêng liêng ấy là nguồn cổ vũ, động viên người lính Tiểu đoàn 516 quên mình chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng quê hương.

Phát huy truyền thống

45 năm xây dựng trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng, Tiểu đoàn 516 được Chính phủ tuyên dương đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang với 8 chữ “Liên tục tiến công – Thắng Mỹ diệt ngụy”. Tiểu đoàn cũng được Nhà nước và các cấp tặng thưởng cả tập thể và cá nhân nhiều Huân chương, huy hiệu, bằng khen khác.

Để có được những chiến công và những phần thưởng cao quý, xây dựng nên truyền thống anh hùng của Tiểu đoàn 516 hôm nay, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ của Tiểu đoàn mãi mãi ghi nhớ công ơn 1.405 liệt sĩ của Tiểu đoàn 516 và 35 bà mẹ Việt Nam anh hùng có chồng, con là liệt sĩ của Tiểu đoàn 516 anh hùng, hàng ngàn thương binh đã đổ máu trên khắp các chiến trường Bến Tre hoặc để lại một phần thân thể nơi miền biên cương Tổ quốc, hàng vạn bệnh binh và không ít trẻ thơ vô tội mang di chứng của chất độc màu da cam, mà bọn đế quốc xâm lược đã trút xuống chiến trường Bến Tre. Có thể nói rằng, đi khắp các nghĩa trang liệt sĩ trong toàn tỉnh, đâu đâu cũng thấy có những nấm mộ của liệt sĩ Tiểu đoàn 516 anh hùng.

Từ ngày thành lập cho đến nay, và nhất là chặng đường 34 năm sau ngày giải phóng nhìn lại, trước vong linh của các anh hùng liệt sĩ, tất cả cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 516 hôm nay “nguyện nêu cao truyền thống anh hùng của Tiểu đoàn phấn đấu lập nhiều thành tích hơn nữa trong thời kỳ mới”. Để làm được điều đó, “không ngừng phấn đấu, tu dưỡng, học tập nâng cao trình độ về mọi mặt, ra sức xây dựng Đảng bộ, chi bộ trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng, ý chí chiến đấu cao, trình độ chiến thuật, kỹ thuật giỏi, thông thạo địa hình, làm công tác dân vận khéo”. Bảo đảm cho Tiểu đoàn “Đi là chiến thắng, đánh là dứt điểm” như các thế hệ cha anh đã làm được. Là một đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang, tiểu đoàn nguyện thể hiện cao lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với cách mạng. Trong bất kỳ tình huống nào cũng “chiến đấu bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ nhân dân”. Cho nên, trong thời bình “tận dụng thời gian để học tập, huấn luyện, rèn luyện xây dựng chính quy, chuẩn bị mọi mặt cho sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu khi cần thiết”, cố gắng học tập hơn nữa để trở thành người cán bộ tốt, người chiến sĩ giỏi góp phần xây dựng và bảo vệ quê hương
_________________
Anh đi giết giặc biên thùy
Dẹp yên bờ cõi ta thì nên duyên
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn Website của thành viên này
Trình bày bài viết theo thời gian:   
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VN Defence -> Quân đội nhân dân Việt Nam Thời gian được tính theo giờ [GMT+7giờ]
Chuyển đến trang 1, 2  Trang kế
Trang 1 trong tổng số 2 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


Thời gian mở trang: 0.357 giây. Số lần truy cập CSDL: 33
Site xây dựng trên cơ sở hệ thống NukeViet v2.0 - phát triển từ PHP-Nuke, lưu hành theo giấy phép của GNU/GPL.
Diễn đàn BBtoNuke 2.0.21 © 2006 Nuke Cops
Được phát triển từ phpBB 2.0.21 © 2001-2006 phpBB Group